Hà Nội là địa bàn dẫn đầu cả nước về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay

Chiều 12/9, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030.
Đảng bộ NHNN Khu vực 1 giành giải Nhất vòng sơ khảo Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi năm 2026 NHNN Khu vực 1 đào tạo ứng dụng AI gắn với thực tiễn công việc NHNN Khu vực 1 quán triệt chỉ đạo của Thống đốc về giảm mặt bằng lãi suất và phổ biến công tác bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động tiền tệ

Tín dụng tập trung vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng

Phát biểu tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Hoà, Giám đốc NHNN Khu vực 1 cho biết, tại Việt Nam, khi thị trường vốn chưa thực sự phát triển, tín dụng ngân hàng vẫn là một trong những kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Hà Nội đang đứng trước yêu cầu lớn về nguồn lực tài chính, với ngành Ngân hàng, bài toán đặt ra là làm thế nào để có đủ vốn, để dòng vốn đến đúng địa chỉ, đúng thời điểm, tối ưu hiệu quả, trong khi đó vừa đáp ứng nhu cầu vốn, vừa đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống TCTD.

Theo Giám đốc NHNN Khu vực 1, trong 8 tháng đầu năm 2026, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trên nền tảng đó, nhiều giải pháp điều hành tín dụng thiết thực, hiệu quả đã được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, hỗ trợ tích cực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Hà Nội là địa bàn dẫn đầu cả nước về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay
Bà Nguyễn Thị Hoà, Giám đốc NHNN Khu vực 1 phát biểu tại Hội nghị

Bám sát định hướng chỉ đạo điều hành của NHNN Việt Nam và của UBND Thành phố, NHNN Khu vực 1 đã chủ động chỉ đạo các TCTD trên địa bàn hướng tín dụng tập trung vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tổ chức làm việc với các TCTD trao đổi các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, tăng cường cung ứng vốn cho nền kinh tế và phối hợp với các sở, ban, ngành tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận vốn. Cùng với đó, NHNN Khu vực 1 theo dõi sát diễn biến tiền tệ, tín dụng, lãi suất trên địa bàn; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát để đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD, kịp thời tham mưu có trách nhiệm cho các cấp lãnh đạo.

Kết quả hoạt động ngân hàng trên địa bàn 8 tháng đầu năm 2026 đã đạt được nhiều con số khá ấn tượng như Hà Nội là địa bàn dẫn đầu cả nước cả về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay, chiếm hơn 37% tổng huy động vốn và hơn 31% dư nợ cho vay toàn nền kinh tế. 8 tháng đầu năm 2026, dư nợ tín dụng trên địa bàn tăng 13,05% và huy động vốn tăng 10,78%, đều cao hơn mức tăng chung của toàn hệ thống. “Điều đó cho thấy các tổ chức tín dụng trên địa bàn vừa mở rộng cung ứng vốn, vừa chủ động tạo lập nguồn vốn tương ứng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế”, Giám đốc NHNN khu vực 1 cho biết.

Phân tích cụ thể hơn, bà Nguyễn Thị Hoà cho biết, nhu cầu vốn tín dụng của kinh tế Thủ đô rất đa dạng, mỗi loại nhu cầu có những đặc điểm riêng. Đối với nhu cầu vốn thường xuyên cho sản xuất, kinh doanh thông thường, đây là nhóm nhu cầu vốn phát sinh thường xuyên, liên tục và có phạm vi rộng trong nền kinh tế, bao gồm vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh; vốn đầu tư mở rộng quy mô, đổi mới máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, DNNVV, hộ kinh doanh. Đồng thời là nguồn lực cho các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Đặc điểm của nhóm này là nhu cầu vốn phát sinh thường xuyên, phân tán ở nhiều ngành, lĩnh vực và chủ thể; thời hạn vay, vòng quay vốn đa dạng và gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh thu và dòng tiền của khách hàng. Vì vậy, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tiếp cận tín dụng, năng lực tài chính, chất lượng phương án sản xuất, kinh doanh và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Đối với nhu cầu vốn cho các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, nhóm nhu cầu này có đặc trưng là quy mô vốn lớn, thời gian thực hiện và hoàn vốn dài, nhu cầu giải ngân tập trung theo từng giai đoạn, do đó đòi hỏi phải huy động đồng bộ nhiều nguồn lực tài chính với cơ cấu và phương thức tài trợ phù hợp.

Để đáp ứng các nhu cầu trên, theo bà Hoà thực tiễn vẫn đang đối mặt với một số khó khăn. Cụ thể, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, ngoài ra khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp trên địa bàn còn có phần hạn chế bởi một số yếu tố chủ yếu như: chi phí vốn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phương án sản xuất, kinh doanh, một bộ phận doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm hoặc giá trị tài sản bảo đảm chưa tương xứng với nhu cầu vay; thông tin tài chính và dữ liệu dòng tiền của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chưa đầy đủ, chuẩn hóa, trong khi việc kết nối, chia sẻ dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội, hóa đơn điện tử phục vụ thẩm định tín dụng chưa đồng bộ; một số phương án sản xuất, kinh doanh và kế hoạch dòng tiền chưa chứng minh rõ khả năng trả nợ. Đây là những yếu tố làm hạn chế khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ phía ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.

Với các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, đến ngày 30/6/2026, đã có 13 TCTD tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng trên 63 nghìn tỷ đồng; dư nợ đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm trên 65%. Mặc dù nhiều TCTD rất tích cực, chủ động tiếp cận và tham gia tài trợ vốn cho các đối tượng này, tuy nhiên quy mô cam kết và giải ngân thực tế còn khiêm tốn, xuất phát từ một số khó khăn như tốc độ huy động vốn chưa bắt kịp đà tăng trưởng tín dụng.

Hà Nội là địa bàn dẫn đầu cả nước về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay
Toàn cảnh Hội nghị

Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn của hệ thống các TCTD trên địa bàn tăng 10,78%, trong khi dư nợ tín dụng tăng 13,05%. Theo đó, tốc độ tăng dư nợ đang cao hơn tốc độ tăng huy động, tạo áp lực lên chi phí và cân đối nguồn vốn của các TCTD. Nếu không có sự chuẩn bị nguồn vốn từ sớm, áp lực này sẽ cộng hưởng với cao điểm giải ngân của các chương trình, dự án quan trọng trong giai đoạn 2027-2029, tạo thêm khó khăn cho các TCTD trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của kinh tế Thủ đô. Ngoài ra còn tiềm ẩn rủi ro về cấu trúc kỳ hạn do vốn huy động ngắn hạn nhưng dự án đầu tư dài hạn.

Nhằm hỗ trợ khơi thông dòng vốn, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn đã được điều chỉnh lên mức 40%, tuy nhiên, theo bà Hoà việc nới tỷ lệ mới chỉ mở thêm dư địa về mặt chính sách, còn về quản trị thực tế, sự chênh lệch về kỳ hạn vẫn đặt các TCTD trước áp lực quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, khiến các TCTD thận trọng khi giải ngân các khoản vay kỳ hạn dài nếu chưa cân đối được nguồn vốn tương ứng.

Bên cạnh đó, còn là vướng mắc về tính hoàn thiện pháp lý và cơ chế tài chính của dự án. Pháp lý dự án là điều kiện tiên quyết để TCTD thẩm định và giải ngân. Tuy nhiên, thực tế nhiều dự án còn vướng mắc kéo dài về thủ tục đầu tư, quy hoạch, giao đất, giải phóng mặt bằng và xác định nghĩa vụ tài chính; khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, TCTD dù đã sẵn sàng nguồn vốn cũng chưa thể giải ngân. Tiến độ bàn giao mặt bằng không liên tục cùng khó khăn về nguồn cung, biến động giá vật liệu xây dựng có thể làm thay đổi tiến độ, làm giảm tính khả thi của phương án tài chính đã tính toán ban đầu, trở thành rào cản lớn ngăn dòng vốn tín dụng tiếp cận dự án.

4 định hướng lớn để khơi thông nguồn lực tài chính phục vụ phát triển Thủ đô

Trên cơ sở nhận diện các khó khăn, vướng mắc nêu trên, bà Hoà cho biết, NHNN khu vực 1 xác định việc khơi thông nguồn lực tài chính phục vụ phát triển Thủ đô cần được triển khai đồng bộ theo bốn định hướng lớn: Khơi thông đồng thời nguồn lực Nhà nước - TCTD - doanh nghiệp thông qua hoàn thiện hành lang pháp lý và cụ thể hóa các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước với các dự án trọng điểm; Cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng; Nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp, dự án.

Ngoài ra, đổi mới phương thức đánh giá tín dụng theo hướng thẩm định trên cơ sở dòng tiền và hiệu quả phương án, từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm; gắn với tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu để giảm bất cân xứng thông tin; đơn giản hóa điều kiện, thủ tục, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với từng nhóm khách hàng.

Cùng với đó, đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn ngoài kênh tín dụng ngân hàng, phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công, PPP và các công cụ tài chính của Thành phố; đồng thời nâng cao khả năng tham gia của hệ thống ngân hàng thông qua hợp vốn, đồng tài trợ và tài trợ theo chuỗi.

Xây dựng lộ trình huy động và cung ứng vốn gắn với tiến độ dự án; tăng cường phối hợp liên ngành, giám sát và quản trị rủi ro trong toàn bộ quá trình huy động, phân bổ và sử dụng vốn.

Từ các định hướng đó, Giám đốc NHNN khu vực 1 đề xuất, đối với UBND Thành phố Hà Nội và các sở, ngành thuộc Thành phố, phát huy hiệu quả các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 258/2025/QH15, Luật Thủ đô và các quy định có liên quan để đẩy nhanh mức độ sẵn sàng của dự án; tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và các điều kiện pháp lý khác, qua đó tạo cơ sở để các TCTD thẩm định và giải ngân vốn theo tiến độ.

Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin về danh mục các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, tiến độ triển khai, nhu cầu vốn theo từng giai đoạn, cơ cấu nguồn vốn, phương án tài chính và khả năng hoàn vốn; đồng thời phân loại dự án theo khả năng tạo dòng tiền để xác định cơ cấu nguồn vốn phù hợp.

Bên cạnh đó, phát huy hiệu quả các công cụ tài chính và nguồn lực của Thành phố; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh; nghiên cứu kỳ hạn, lãi suất và phương thức phát hành phù hợp để nâng cao tính hấp dẫn, thu hút nhà đầu tư. Khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất, tín chỉ các-bon, kết dư ngân sách, các quỹ tài chính; tăng cường huy động ODA, vốn vay ưu đãi, PPP và các nguồn vốn hợp pháp khác cho đầu tư phát triển.

Về phía NHNN, Giám đốc NHNN đề xuất tiếp tục duy trì các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu, ban hành hướng dẫn triển khai quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội để hiện thực hóa các cơ chế đặc thù về huy động nguồn lực cho các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thành phố. Đồng thời bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cấp tín dụng, yêu cầu quản trị rủi ro, an toàn hoạt động ngân hàng và phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

Tổng hợp báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng cơ sở dữ liệu DNNVV trong Hệ thống thông tin doanh nghiệp quốc gia để tạo nguồn dữ liệu đáng tin cậy về hoạt động của DNNVV làm cơ sở để các tổ chức tín dụng đánh giá khả năng trả nợ và mở rộng cho vay dựa trên dòng tiền. Nghiên cứu hình thức bảo lãnh của Chính phủ cho các dự án đầu tư lớn, quan trọng trong phạm vi phù hợp với khung khổ quản lý an toàn nợ công, nợ nước ngoài quốc gia; Đẩy mạnh phát triển thị trường vốn trong nước…

Đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn, bà Nguyễn Thị Hoà yêu cầu chủ động rà soát quy trình, thủ tục và chính sách tín dụng nội bộ đảm bảo tinh gọn, tiết giảm chi phí, nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng của khách hàng; phát triển các sản phẩm phù hợp với DNNVV, hộ kinh doanh và các lĩnh vực động lực tăng trưởng mới, tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn trên cơ sở bảo đảm các điều kiện an toàn.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu trong thẩm định, quản lý tín dụng; mở rộng phương thức cho vay dựa trên dòng tiền, doanh thu, hợp đồng và dữ liệu giao dịch đối với các khách hàng có đủ điều kiện.

Đối với các chương trình, dự án đầu tư quy mô lớn, chủ động tiếp cận từ giai đoạn chuẩn bị, phối hợp với chủ đầu tư xây dựng phương án tài trợ phù hợp với tiến độ, cơ cấu nguồn vốn và khả năng hoàn vốn của từng dự án. Tăng cường hợp vốn, đồng tài trợ và tài trợ theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; phân bổ nhu cầu vốn phù hợp với năng lực của từng TCTD và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án.

Về phía doanh nghiệp, chủ đầu tư, cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp và chất lượng phương án sản xuất, kinh doanh; chủ động tăng vốn chủ sở hữu, quản trị dòng tiền và xây dựng phương án trả nợ phù hợp. Nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, chuẩn hóa báo cáo, dữ liệu hoạt động và dòng tiền; tăng cường giao dịch qua hệ thống ngân hàng để tạo cơ sở cho TCTD đánh giá đầy đủ hơn khả năng trả nợ, qua đó giảm bất cân xứng thông tin.

Đa dạng hóa nguồn lực tài chính, kết hợp vốn chủ sở hữu, vốn đối tác, quỹ đầu tư, thị trường vốn và tín dụng ngân hàng, hạn chế phụ thuộc vào một kênh vốn duy nhất.

“Với vai trò đầu mối ngành Ngân hàng trên địa bàn, NHNN khu vực 1 sẽ tiếp tục thúc đẩy kết nối cung - cầu vốn, tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng, hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và các công trình, dự án hiệu quả, gắn với bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và phát triển bền vững của Thủ đô”, bà Nguyễn Thị Hoà cho biết.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/ha-noi-la-dia-ban-dan-dau-ca-nuoc-ve-quy-mo-huy-dong-von-va-du-no-cho-vay-187436.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.