![]() |
| Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” |
FDI và bài toán kết nối doanh nghiệp nội
Ngày 18/9/2026, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”.
Phát biểu khai mạc, TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp cho biết, kinh tế thế giới đang biến động mạnh, khiến chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục điều chỉnh dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, xu hướng xanh hóa và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường quốc tế.
Theo ông Minh, quá trình tái cấu trúc này vừa tạo sức ép, vừa mở ra cơ hội để các quốc gia và doanh nghiệp tái định vị trong mạng lưới sản xuất, thương mại toàn cầu. Với Việt Nam, dịch chuyển chuỗi cung ứng có thể tạo thêm dư địa thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành giá trị thực khi năng lực cạnh tranh, công nghệ, quản trị và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp được cải thiện.
Chia sẻ về xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, TS. Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược cho biết, Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI. Trung Quốc đang dần trở thành một trong những nguồn đầu tư hàng đầu. Năm 2025, Singapore dẫn đầu với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc 4,20 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các đối tác chính gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.
Theo ông Dương, một xu hướng nổi bật là các nền kinh tế và tập đoàn toàn cầu đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung nhằm giảm phụ thuộc vào một số quốc gia, công nghệ hoặc tuyến vận tải. Trong bối cảnh đó, các hiệp định thương mại tự do (FTA) không còn đơn thuần là công cụ mở cửa thị trường, mà ngày càng hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa quan hệ thương mại và phân tán rủi ro chuỗi cung ứng.
Thực tế cho thấy, ngay cả khi thuế quan và bảo hộ thương mại gia tăng, liên kết kinh tế vẫn tiếp tục được thúc đẩy. Việc mở rộng và nâng cấp FTA diễn ra tại nhiều khu vực, trong đó có châu Á - Thái Bình Dương. Với Việt Nam, mạng lưới FTA rộng giúp mở thêm thị trường xuất khẩu và tăng sức hấp dẫn đối với dòng vốn FDI. Doanh nghiệp FDI cũng có thêm lựa chọn tổ chức sản xuất, kết nối nguồn cung và tiếp cận các thị trường khác nhau.
Tuy nhiên, ông Dương cho rằng, Việt Nam cần thay đổi tư duy thu hút đầu tư nước ngoài. Thay vì tập trung chủ yếu vào ưu đãi tài chính, chính sách cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái đủ sức thu hút và phát triển doanh nghiệp FDI lâu dài. Một dự án FDI chất lượng không chỉ mang vốn và việc làm, mà còn có khả năng kéo theo nhà cung ứng, logistics, tài chính, công nghệ và doanh nghiệp hỗ trợ. Đây là điểm kết nối quan trọng giữa thu hút FDI và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước.
Cùng với đó, Việt Nam cần xây dựng tiêu chuẩn phù hợp với năng lực doanh nghiệp nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu quốc tế; nâng chất lượng hạ tầng logistics, hạ tầng số và năng lượng; tăng cường quản lý rủi ro xuất xứ, phòng vệ thương mại; đồng thời hình thành hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu cao hơn.
Tái chế pin xe điện đã qua sử dụng cũng có thể trở thành một lĩnh vực mới. Song để thu hút dự án, Việt Nam phải giải quyết đồng thời bài toán công nghệ, vốn và quy mô thị trường. Do nguồn nguyên liệu tái chế trong nước còn hạn chế, chính sách có thể cần tính đến cơ chế phù hợp đối với nhập khẩu nguyên liệu, sản phẩm đã qua sử dụng làm đầu vào tái chế, trên nền tảng công nghệ và tiêu chuẩn môi trường được kiểm soát.
Từ xuất khẩu lớn đến giá trị gia tăng
Nhìn rộng hơn, chuyển dịch chuỗi cung ứng tạo cơ hội để Việt Nam chuyển từ vị trí tham gia một số công đoạn sản xuất sang xây dựng năng lực cung ứng có giá trị gia tăng cao hơn. Nhưng theo ông Dương, doanh nghiệp phải nâng năng lực công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn hóa và kết nối; Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh, hạ tầng và chính sách để các mắt xích liên kết hiệu quả.
![]() |
| TS. Đỗ Diệu Hương |
TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, thương mại và xuất khẩu tăng nhanh chưa đồng nghĩa doanh nghiệp trong nước được nâng cao tương ứng về vị thế và khả năng tạo giá trị trong chuỗi.
Giai đoạn 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2025, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.
Theo TS. Đỗ Diệu Hương, yêu cầu đối với nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở rộng nhanh chóng. Bên cạnh chất lượng, giá thành, quy mô và độ tin cậy giao hàng, doanh nghiệp ngày càng phải đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc nguyên liệu, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.
Điều đó làm thay đổi căn bản bài toán năng lực. Doanh nghiệp không chỉ cần tạo ra sản phẩm đạt yêu cầu tại thời điểm giao hàng, mà còn phải có hệ thống quản trị, quy trình và dữ liệu đủ khả năng chứng minh, duy trì sự phù hợp trong suốt quá trình cung ứng. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp từ vị trí nhà cung cấp đơn lẻ có thể trở thành một mắt xích ổn định hơn trong chuỗi.
TS. Đỗ Diệu Hương đưa ra khái niệm “khoảng cách tiêu chuẩn”, tức khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp và năng lực cần thiết để đáp ứng, chứng minh và duy trì yêu cầu của một thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể.
Theo cách tiếp cận này, trọng tâm không chỉ là xác định doanh nghiệp mạnh hay yếu, mà phải nhận diện chính xác những năng lực còn thiếu và điểm nghẽn cần ưu tiên. Đây là bước quan trọng để doanh nghiệp gia nhập, duy trì và từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tổ chức lại, lợi thế cạnh tranh vì thế không còn chỉ nằm ở chi phí thấp hay vị trí địa lý. Khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xanh, quản trị dữ liệu, bảo đảm nguồn cung, kiểm soát xuất xứ và kết nối với doanh nghiệp quốc tế sẽ ngày càng quyết định vị trí của từng doanh nghiệp.
Muốn vậy, doanh nghiệp cần nhìn vào những điểm nghẽn. Chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, hạ tầng, tài chính, dữ liệu và các tiêu chuẩn quốc tế với chi phí hợp lý hơn. Khi khoảng cách tiêu chuẩn được thu hẹp, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh bền vững.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/xuat-khau-hang-tram-ty-usd-moi-nam-doanh-nghiep-viet-van-dung-ngoai-chuoi-cung-ung-toan-cau-187766.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.