Thị trường vốn 2026: Mở rộng nguồn lực, tăng chiều sâu huy động

Thị trường vốn Việt Nam đứng trước yêu cầu mở rộng quy mô, đa dạng hóa kênh huy động và nâng chất lượng dòng vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng.
Nâng hạng thị trường vốn: Thêm hướng đi cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp bất động sản Thúc đẩy dòng vốn quốc tế vào Việt Nam Thị trường vốn trước bài toán dẫn dòng tiền cho giai đoạn tăng trưởng mới
Trái phiếu doanh nghiệp mở thêm dư địa huy động, thúc đẩy thị trường vốn phát triển chiều sâu    ảnh: minh họa
Trái phiếu doanh nghiệp mở thêm dư địa huy động, thúc đẩy thị trường vốn phát triển chiều sâu - Ảnh minh họa

Mở rộng thị trường vốn, khơi thông nguồn lực đầu tư

Kinh tế Việt Nam bước vào những tháng cuối năm 2026 với động lực tăng trưởng tích cực, song nhu cầu vốn ngày càng lớn đặt ra yêu cầu phát triển thị trường vốn theo chiều sâu. GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất tháng 9/2026 đạt 51,9 điểm, đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp sản xuất mở rộng.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng. Trong 9 tháng đầu năm, vốn đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ; vốn giải ngân đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, cao nhất trong 5 năm. Diễn biến này cho thấy nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và phát triển hạ tầng tiếp tục gia tăng.

Với mục tiêu GDP tăng tối thiểu 10% năm 2026 và tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 33% GDP, nền kinh tế cần ít nhất 4,7 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực tư nhân đóng góp hơn 2,6 triệu tỷ đồng. Vì vậy, huy động nguồn lực không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà cần phát triển các kênh dẫn vốn trực tiếp, nhất là cho những dự án dài hạn.

Các chính sách hỗ trợ cung ứng vốn gồm Thông tư 25/2026/TT-NHNN, khôi phục trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40%, từ mức 30%, với ước tính giải phóng 52-60 tỷ USD dư địa cho vay; năng lực mở rộng tổng thể được ước tính khoảng 1.000 tỷ USD. Quyết định 1743 nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn khi xác định LDR từ 20% lên 50%. Ngoài ra, 750.000 tỷ đồng, tương đương 28 tỷ USD, cho vay 18 dự án hạ tầng lớn được tính ngoài hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026.

Theo FiinRatings, thị trường vốn nợ Việt Nam hiện tương đương 30,4% GDP, trong đó trái phiếu Chính phủ chiếm 19,2% GDP. Dư địa phát triển còn lớn, nhưng thị trường cần mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức và thu hút thêm nguồn vốn quốc tế.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, Kho bạc Nhà nước gọi thầu 545.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ. Giá trị đăng ký mua đạt 87,7%, nhưng khối lượng trúng thầu chỉ đạt 246.500 tỷ đồng, tương đương 45,2% kế hoạch. Trong 12 tháng tính đến tháng 9/2026, đường cong lợi suất dịch chuyển lên 120-150 điểm cơ bản. Lợi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm đạt 4,37%, tăng 88 điểm cơ bản so với cùng kỳ; kỳ hạn 5 năm đạt 4,12%, tăng 107 điểm cơ bản. Diễn biến này cho thấy cần nâng hiệu quả phát hành và phát triển thị trường thứ cấp.

Cơ cấu sở hữu trái phiếu chính phủ vẫn tập trung trong nước. Bảo hiểm Xã hội và các doanh nghiệp bảo hiểm nắm 60,4%, ngân hàng nắm 36,6%, còn nhà đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0,1%. Tỷ lệ này thấp hơn Malaysia (20,9%), Indonesia (14,1%) và Thái Lan (9%). Thu hút thêm nhà đầu tư quốc tế sẽ giúp đa dạng hóa nguồn cầu và tăng kết nối với thị trường tài chính toàn cầu.

Giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vay của Chính phủ lên tới 6.497 nghìn tỷ đồng, trong khi các địa phương cần 622 nghìn tỷ đồng. Hà Nội dự kiến phát hành 150.000-200.000 tỷ đồng thông qua 5 ngân hàng thương mại nhà nước, đánh dấu đợt phát hành trái phiếu địa phương lớn nhất sau gần một thập kỷ, nhờ cơ chế tự chủ từ Luật Thủ đô 2026. Bộ Tài chính cũng nghiên cứu phát hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm trên thị trường quốc tế, lần đầu kể từ năm 2014.

Những kế hoạch này mở ra cơ hội đa dạng hóa chủ thể phát hành, huy động vốn cho đầu tư công và hạ tầng. Để thị trường vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần mở rộng cơ sở nhà đầu tư, nâng tính minh bạch và phát triển đồng bộ các kênh huy động, qua đó phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn cho nền kinh tế.

Đa dạng hóa kênh huy động, nâng chất lượng dòng vốn

Nếu trái phiếu chính phủ là nền tảng của thị trường vốn nợ, trái phiếu doanh nghiệp cần phát triển để đáp ứng nhu cầu đầu tư tư nhân. Quy mô phân khúc này tương đương 10,4% GDP, thấp hơn Thái Lan (23,39%) và Malaysia (54,6%).

Theo FiinRatings, 9 tháng đầu năm 2026, giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 409,8 tỷ đồng, gồm 357,6 tỷ đồng phát hành riêng lẻ (87,3%) và 52,2 tỷ đồng phát hành ra công chúng (12,7%). Ngân hàng và bất động sản chiếm ưu thế, lần lượt đóng góp 49,2% và 41,5% nguồn cung.

Thị trường tập trung vào một số ngành, trong khi doanh nghiệp sản xuất, công nghệ và dịch vụ chưa khai thác tương xứng kênh huy động vốn. Cần đa dạng hóa tổ chức phát hành, nâng chất lượng công bố thông tin để nhà đầu tư đánh giá năng lực tài chính.

Khuôn khổ pháp lý được hoàn thiện qua Luật Chứng khoán sửa đổi (Luật 56/2024), Nghị định 245/2025 về chào bán ra công chúng và Nghị định 200/2026 về phát hành riêng lẻ. Quy định gồm giới hạn nợ phải trả không quá 5 lần vốn chủ sở hữu, yêu cầu xếp hạng tín nhiệm, đại diện người sở hữu trái phiếu và siết điều kiện với nhà đầu tư cá nhân. Doanh nghiệp cần coi xếp hạng tín nhiệm, quản trị tài chính và công bố thông tin là nền tảng tạo uy tín.

Theo FiinRatings, vay hợp vốn quốc tế là kênh bổ sung. Trong 9 tháng đầu năm 2026, giá trị vay hợp vốn quốc tế của Việt Nam đạt 3,8 tỷ USD, so với 2,5 tỷ USD cả năm 2025. Các khoản vay lớn gồm 1,44 tỷ USD của VPBank, khoản vay liên kết bền vững đầu tiên tại Việt Nam; 721 triệu USD của HDBank; 750 triệu USD của Masan Group và 488 triệu USD của TCBS.

Cũng theo FiinRatings, tín dụng tư nhân và vốn từ các định chế tài chính phát triển (DFI) hỗ trợ mở rộng kinh doanh, tái cấp vốn và chuẩn bị trước IPO. Giao dịch gồm 510 triệu USD cho VinFast từ Deutsche Bank và SeaTown, 240 triệu USD cho Vincom Retail và 255 triệu USD cổ phiếu ưu đãi cho Vinpearl. IFC, ADB, JICA và FMO cũng cho vay hàng trăm triệu USD đối với VPBank, HDBank, Techcombank và SeABank.

Tài chính bền vững mở ra hướng phát triển mới. Đến quý I/2026, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt 31,87 tỷ USD, chiếm 4,3% tổng dư nợ; năng lượng tái tạo chiếm 37%, nông nghiệp xanh chiếm 29%.

Verdant Energy phát hành 30 triệu USD, tương đương 792 tỷ đồng, trái phiếu xanh kỳ hạn 15 năm, được GuarantCo bảo lãnh, để tài trợ 58 MW điện mặt trời áp mái cho khách hàng công nghiệp và thương mại. Miza Nghi Sơn phát hành 150 tỷ đồng trái phiếu xanh ngành giấy kỳ hạn 7 năm, không cần bảo lãnh quốc tế. Cả hai thương vụ đều nhận đánh giá độc lập (SPO) từ FiinRatings. Dự thảo nghị định của Ngân hàng Nhà nước đề xuất hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho dự án xanh.

Theo FiinRatings, Việt Nam cần giải quyết ba bài toán. Thứ nhất, nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia từ BB+/Ba2 lên ngưỡng đầu tư (Investment Grade), hướng tới năm 2030 theo Quyết định 412/QĐ-TTg, để cải thiện khả năng tiếp cận vốn quốc tế. Thứ hai, phát triển nhà đầu tư tổ chức như quỹ mở, quỹ hưu trí và quỹ thị trường tiền tệ; các quỹ CD ra mắt của UOBAM và VCBF có thể tăng thanh khoản thị trường thứ cấp. Cuối cùng, thúc đẩy minh bạch thông tin và xếp hạng tín nhiệm để định giá rủi ro tốt hơn, bảo vệ nhà đầu tư và củng cố niềm tin.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/thi-truong-von-2026-mo-rong-nguon-luc-tang-chieu-sau-huy-dong-188777.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.