Tăng trưởng cao và những sức ép cần nhận diện

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, thách thức lớn nhất trong giai đoạn tới là giải bài toán kép: vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn, vừa từng bước củng cố nền tảng nội tại trong trung và dài hạn.
Bốn trụ cột cùng Việt Nam kiến tạo mô hình tăng trưởng mới Tiếp tục tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng vào lĩnh vực ưu tiên Kinh tế AI nới rộng dư địa tăng trưởng hai con số
Tăng trưởng cao và những sức ép cần nhận diện
Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê

Theo bà, những chỉ báo nào cho thấy dòng vốn đang thực sự đi vào nền kinh tế và tạo ra năng lực sản xuất mới?

Để đánh giá sức hấp thụ vốn, cơ quan thống kê không chỉ quan sát quy mô tín dụng hay tổng nguồn vốn cung ứng ra thị trường, mà tập trung theo dõi sự chuyển hóa của dòng vốn vào tài sản cố định, nhà xưởng và năng lực vận hành thực tế của doanh nghiệp.

Qua số liệu 9 tháng năm 2026, có thể thấy ba nhóm chỉ báo khá rõ. Trước hết, chỉ số sản xuất nhóm tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, công cụ và nguyên vật liệu nền tảng, tăng 15,4%, cao hơn mức tăng 11,5% của nhóm hàng tiêu dùng dân cư. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang ưu tiên nguồn lực cho máy móc, nhà xưởng và nguyên liệu phục vụ các chu kỳ sản xuất tiếp theo.

Thứ hai, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Trong đó, vốn khu vực nhà nước chiếm 30% tổng vốn và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài nhà nước chiếm 53,0% và tăng 14,0%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,0% và tăng 14,5%. Vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua, phản ánh vốn đầu tư đang chuyển từ cam kết sang nhà máy, dây chuyền và năng lực sản xuất thực tế.

Thứ ba, vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5%, phần nào thể hiện sự chuẩn bị nguồn lực tài chính bài bản hơn; nhiều sản phẩm công nghiệp phục vụ đầu tư, hạ tầng cũng tăng khá. Sản xuất công nghiệp lan tỏa khá đồng đều khi 34/34 tỉnh, thành phố đều ghi nhận chỉ số sản xuất công nghiệp tăng và cả 4 ngành công nghiệp cấp I đều tăng trưởng tích cực.

Tổng hợp các chỉ báo thống kê trên cho thấy, vốn đầu tư thực hiện trong 9 tháng năm 2026 đang được nền kinh tế tiếp nhận một cách lành mạnh, từng bước chuyển hóa thành tài sản và năng lực sản xuất mới. Đây chính là bệ phóng quan trọng giúp củng cố nội lực, bảo đảm sự ổn định và tính bền vững cho tăng trưởng kinh tế trong những giai đoạn tiếp theo.

Từ những con số trên có thể kỳ vọng chất lượng tăng trưởng cải thiện tương xứng với tốc độ tăng trưởng?

Nếu đặt tốc độ tăng trưởng GDP bên cạnh các chỉ tiêu về doanh nghiệp, việc làm và sức mua, có thể thấy chất lượng tăng trưởng đã có những chuyển biến tích cực, nhưng mức độ cải thiện chưa hoàn toàn đồng đều với tốc độ tăng trưởng.

Trong 9 tháng, số doanh nghiệp thành lập mới, tổng vốn đăng ký, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đều tăng so với cùng kỳ năm 2025, báo hiệu sản xuất, kinh doanh đang có sự phục hồi và mở rộng. Chỉ số PMI tháng 9 đạt 51,9 điểm và duy trì trạng thái mở rộng tháng thứ 15 liên tiếp, ghi nhận niềm tin kinh doanh đang được củng cố. Về sức mua, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng duy trì tăng trưởng, phản ánh cầu trong nước tiếp tục được cải thiện.

Mặt khác, một số chỉ tiêu cũng cho thấy chất lượng tăng trưởng vẫn cần thêm thời gian để cải thiện đồng bộ hơn. Đơn cử, số lao động đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới giảm 16,1%; hơn 48,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể; đơn hàng xuất khẩu mới trong ngành sản xuất giảm hai tháng liên tiếp, việc làm trong khu vực sản xuất có xu hướng thu hẹp. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, tạo thêm áp lực đối với sức mua thực và điều hành giá…

Trong bối cảnh chất lượng tăng trưởng còn chưa đồng đều, theo bà, cầu trong nước đã đủ mạnh để trở thành một động lực tăng trưởng nội địa quan trọng?

Tiêu dùng trong nước tiếp tục là một động lực quan trọng, bên cạnh đầu tư và xuất khẩu. Thị trường tiêu dùng quý III và 9 tháng năm 2026 có chuyển biến tích cực, sức mua thực cải thiện so với cùng kỳ, nhưng mức cải thiện vẫn còn vừa phải.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%; nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 7,8%, cao hơn mức 7,2% của cùng kỳ năm trước. Nhu cầu dịch vụ là một điểm sáng khi doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 16,7%, du lịch lữ hành tăng 17,9%... Sức mua thực có cải thiện nhưng còn ở mức vừa phải, cần tiếp tục được hỗ trợ để phát huy mạnh hơn vai trò đối với tăng trưởng. Ổn định việc làm, nâng cao thu nhập thực, bảo đảm an sinh, bình ổn giá hàng thiết yếu và phát triển thị trường trong nước là rất quan trọng để tăng cường sức mua.

Ba động lực cũng có quan hệ hỗ trợ nhau. Đầu tư mở rộng năng lực sản xuất; xuất khẩu tạo thị trường, hỗ trợ việc làm và thu nhập; tiêu dùng trong nước tăng lại tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh. Riêng đóng góp của xuất khẩu vào GDP cần được đánh giá cùng nhập khẩu và phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước, thay vì chỉ nhìn vào tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu.

Vậy đâu là các tín hiệu đáng lưu ý cho quý IV/2026 và đầu năm 2027, thưa bà?

Chúng tôi cho rằng có một số tín hiệu mang tính cảnh báo sớm. Trước hết là độ đồng đều của tăng trưởng giữa các địa phương. Trong 22 địa phương chưa đạt tăng trưởng GRDP chín tháng từ 10% trở lên, một số địa phương tăng dưới 8%. Hai cực tăng trưởng lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh lần lượt tăng 8,85% và 9,06%, qua đó tạo áp lực nhất định đối với mục tiêu tăng trưởng trên 10% năm 2026 của cả nước và khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số những năm tiếp theo.

Thứ hai là cán cân thương mại. Chín tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD. Nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu ngày càng rõ nét và tạo áp lực lớn lên thị trường ngoại hối, tỷ giá.

Thứ ba là áp lực giá và chi phí đầu vào. CPI bình quân chín tháng tăng 4,52%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,37% và chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%. Chi phí đầu vào tăng có thể ảnh hưởng tới giá tiêu dùng, biên lợi nhuận.

Thứ tư là sức cầu trong nước. Ngành dịch vụ cần tiếp tục nỗ lực để tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2026 đạt mục tiêu 13-15% như Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP đặt ra.

Từ cơ cấu và các động lực tăng trưởng hiện nay, theo bà, chúng ta cần làm gì để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng?

Kết quả 9 tháng thể hiện nền kinh tế đang duy trì đà tích cực. GDP ước tăng 9,01%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%. Xuất khẩu tiếp tục là một động lực quan trọng, với tổng kim ngạch đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%. Các tín hiệu hiện nay chưa cho thấy xuất khẩu sẽ suy giảm trong ngắn hạn, nhưng đây là động lực phụ thuộc nhiều vào thị trường và chính sách bên ngoài.

Vì vậy, vấn đề không chỉ là duy trì một con số tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tăng trưởng phải có chất lượng và khả năng duy trì trong dài hạn. Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở việc nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời phần giá trị tạo ra có sức lan tỏa lớn hơn trong nền kinh tế. Tính bền vững đòi hỏi các động lực đa dạng hơn, giảm phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc.

Để nâng cao chất lượng tăng trưởng, cần chuyển mạnh từ tư duy thúc đẩy tăng trưởng theo chiều rộng sang củng cố các động lực tăng trưởng: nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn; thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi số; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng tỷ trọng các ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng cao; đồng thời phát triển mạnh thị trường trong nước và sức mua nội địa.

Đặc biệt, với khu vực công nghiệp, cần tiếp tục theo dõi mức độ lan tỏa, nhất là từ khối FDI tới doanh nghiệp trong nước, năng suất, giá trị gia tăng nội địa và khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tăng trưởng xuất khẩu sẽ bền vững hơn khi đi cùng việc nâng cao hàm lượng giá trị tạo ra trong nước.

Tóm lại, thách thức lớn nhất trong giai đoạn tới là giải bài toán kép: duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn thông qua việc tận dụng tốt các động lực hiện có, đồng thời từng bước củng cố nền tảng nội tại trong trung và dài hạn như năng suất lao động, đầu tư tư nhân, tiêu dùng nội địa, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Xin cảm ơn bà!

Đỗ Lê thực hiện

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/tang-truong-cao-va-nhung-suc-ep-can-nhan-dien-188924.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.