Hợp tác Việt - Đức: Làm sao để tăng hiệu quả thu hút vốn ngoại?

Việt Nam và Đức có nhiều lợi thế bổ trợ, nhưng thách thức lớn nhất là chuyển kỳ vọng hợp tác thành dự án cụ thể, công nghệ và giá trị gia tăng.
Kết nối doanh nghiệp Việt, nâng chất lượng dòng vốn FDI Xanh hóa khu công nghiệp để đón dòng vốn FDI chất lượng cao Doanh nghiệp nào hưởng lợi khi dòng vốn ngày càng chọn lọc?
Thu hút đầu tư Đức tạo sức bật công nghệ, nâng năng suất           ảnh: minh họa
Thu hút đầu tư Đức tạo sức bật công nghệ, nâng năng suất - Ảnh minh họa

Hợp tác cần vượt khỏi kỳ vọng

Việt Nam và Đức có nhiều điều kiện để mở rộng hợp tác kinh tế, từ thương mại, công nghiệp công nghệ cao đến logistics, chuyển đổi xanh và đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, thách thức không nằm ở việc xác định lĩnh vực tiềm năng, mà ở khả năng chuyển những lợi thế bổ trợ thành dự án đầu tư cụ thể, liên kết thực chất và giá trị gia tăng cho cả hai nền kinh tế.

Ông Nguyễn Lộc Hà, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM cho hay, những kết quả tích cực trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Thành phố và Đức, đồng thời khẳng định dư địa hợp tác song phương vẫn còn rất lớn.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại giữa TP.HCM và Đức đạt gần 2 tỷ USD. Đức hiện có 316 dự án đầu tư tại Thành phố, với tổng vốn đăng ký hơn 742 triệu USD, cùng 27 văn phòng đại diện của doanh nghiệp Đức. Đây là nền tảng đáng kể, nhưng quy mô hiện diện đầu tư cũng cho thấy câu hỏi đặt ra không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu dự án, mà còn làm thế nào để mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.

TP.HCM và Hamburg có những thế mạnh bổ trợ trong cảng biển, logistics, công nghiệp hàng không, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ông Nguyễn Lộc Hà bày tỏ mong muốn Hamburg trở thành địa phương thứ tư của Đức thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác với TP.HCM, sau Leipzig, Frankfurt và Heidelberg.

Mong muốn mở rộng quan hệ giữa hai địa phương cho thấy dư địa hợp tác đã được nhận diện. Tuy nhiên, từ kết nối chính quyền đến hợp tác doanh nghiệp vẫn là một chặng đường cần được cụ thể hóa bằng danh mục dự án, cơ chế phối hợp và nhu cầu thị trường rõ ràng. Nếu thiếu những bước đi này, lợi thế bổ trợ giữa hai trung tâm kinh tế vẫn có thể dừng ở mức kỳ vọng.

Tiến sĩ Peter Tschentscher, Thị trưởng thứ nhất Thành phố Hamburg cho hay, nền tảng quan hệ hữu nghị lâu dài giữa Đức và Việt Nam, đồng thời khẳng định mong muốn mở rộng hợp tác trong thương mại, logistics, công nghệ, phát triển bền vững, khoa học và giáo dục.

“Chúng tôi mong muốn chia sẻ tri thức, kết hợp thế mạnh của hai bên và cùng xây dựng những chiến lược chung”, ông Peter Tschentscher nhấn mạnh.

Là trung tâm cảng biển và logistics hàng đầu của Đức, Hamburg có kinh nghiệm trong phát triển hạ tầng cảng biển, số hóa hoạt động logistics, năng lượng tái tạo và công nghệ xanh. Đây đều là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu phát triển. Song, khoảng cách giữa nhu cầu và kết quả hợp tác chỉ được thu hẹp khi kinh nghiệm, công nghệ và giải pháp của Đức được chuyển hóa thành các dự án phù hợp với điều kiện trong nước, có khả năng triển khai và tạo hiệu quả kinh tế.

Với TP.HCM, bài toán không đơn thuần là tìm kiếm đối tác quốc tế, mà còn là lựa chọn những lĩnh vực có thể tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và cải thiện hiệu quả hạ tầng. Với doanh nghiệp Đức, cơ hội thị trường cần đi cùng khả năng xác định đối tác, đánh giá điều kiện đầu tư và xây dựng phương án kinh doanh dài hạn. Vì vậy, kết nối song phương cần vượt khỏi các cuộc gặp gỡ, hướng tới hợp tác có đầu ra đo lường được.

Thu hút vốn chất lượng cao

Nghịch lý của thu hút đầu tư hiện nay là Việt Nam có nhu cầu lớn về công nghệ, hạ tầng và chuyển đổi công nghiệp, trong khi mục tiêu không còn chỉ là gia tăng vốn đăng ký. Dòng vốn cần tạo thêm năng lực sản xuất, nâng cao năng suất và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Điều đó đòi hỏi xúc tiến đầu tư phải đi sâu vào từng dự án, thay vì chủ yếu dừng ở việc quảng bá tiềm năng và tìm kiếm sự quan tâm của nhà đầu tư.

Theo bà Đào Thanh Hương, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Tài chính, Việt Nam đang chuyển trọng tâm từ thu hút FDI về số lượng sang ưu tiên các dự án chất lượng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Bốn lĩnh vực được kỳ vọng thu hút làn sóng đầu tư mới từ Đức gồm sản xuất công nghiệp công nghệ cao; cơ sở hạ tầng và logistics; công nghệ và chuyển đổi xanh; phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi công nghiệp.

Định hướng đã rõ, nhưng để thu hút được dòng vốn phù hợp, Việt Nam cần chứng minh khả năng triển khai dự án và tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư trong suốt vòng đời hoạt động. Đồng thời, doanh nghiệp trong nước phải đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất. Nếu thiếu liên kết, dòng vốn nước ngoài có thể mở rộng quy mô hiện diện nhưng tác động lan tỏa đến năng lực công nghiệp nội địa sẽ không tương xứng với kỳ vọng.

Bà Đào Thanh Hương khẳng định, sẵn sàng phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đức tại Việt Nam (GBA), Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam (AHK Vietnam) cùng các cơ quan liên quan để thúc đẩy xúc tiến đầu tư theo dự án cụ thể, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ nhà đầu tư Đức từ giai đoạn tìm hiểu cơ hội đến triển khai, mở rộng hoạt động tại Việt Nam.

Đây là hướng tiếp cận cần thiết để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực thi. Thay vì chỉ giới thiệu những lĩnh vực Việt Nam cần vốn, hoạt động xúc tiến cần xác định rõ dự án nào phù hợp với năng lực của nhà đầu tư Đức, đối tác trong nước nào có thể tham gia, yêu cầu công nghệ ra sao và những điều kiện nào cần được tháo gỡ để dự án đi vào hoạt động.

Ở góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Alexander Ziehe, Chủ tịch GBA cho biết, vai trò của niềm tin và quan hệ đối tác dài hạn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển đổi mạnh mẽ bởi công nghệ, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, yêu cầu phát triển bền vững và biến động địa chính trị.

Theo ông Alexander Ziehe, doanh nghiệp Đức ngày càng nhìn nhận Việt Nam không chỉ là thị trường tiềm năng mà còn là đối tác chiến lược trong tương lai, với cơ hội hợp tác ở các lĩnh vực sản xuất tiên tiến, logistics, y tế, năng lượng tái tạo, công nghệ số và giáo dục.

“Hợp tác kinh tế không chỉ được đo lường bằng những bài phát biểu hay cuộc họp, mà bằng những khoản đầu tư mới, dự án mới, việc làm mới và các quan hệ đối tác mới”, ông Alexander Ziehe chia sẻ.

Cùng nhìn vào yêu cầu nâng cấp quan hệ hợp tác, ông Peter Kompalla, Trưởng đại diện AHK Vietnam nhận định, quan hệ Đức - Việt Nam cần phát triển vượt ra ngoài thương mại và đầu tư truyền thống, hướng đến hợp tác sâu rộng hơn về công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng.

Theo ông Peter Kompalla, ba ưu tiên chiến lược trong giai đoạn tiếp theo gồm nâng cao năng suất và chuyển đổi công nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển đổi xanh; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Việc kết hợp thế mạnh công nghệ, kinh nghiệm quản trị của Đức với năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và sự năng động của Việt Nam có thể tạo động lực tăng trưởng, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào khả năng phối hợp đồng bộ giữa vốn, công nghệ, hạ tầng và nhân lực.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/hop-tac-viet-duc-lam-sao-de-tang-hieu-qua-thu-hut-von-ngoai-189203.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.