An ninh nguồn nước: Cần kết nối hạ tầng, dữ liệu và trách nhiệm

Nguồn nước biến động khó lường đòi hỏi Việt Nam chuyển từ khai thác riêng lẻ sang điều hòa liên vùng, kết nối dữ liệu và vận hành hồ chứa chủ động.
Giải pháp nào để đảm bảo an ninh nguồn nước? Đầu tư công nghệ, bảo đảm an ninh nguồn nước trong nông nghiệp Cảnh báo El Nino mạnh: Nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng
Quang cảnh hội thảo
Quang cảnh hội thảo

Chủ động nguồn nước, nâng hiệu quả điều hành

Ngày 20/10, Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”. Các chuyên gia cho rằng cần chuyển từ khai thác riêng lẻ sang điều hòa, phân phối nước theo lưu vực, đồng thời đẩy mạnh công nghệ và hoàn thiện cơ chế phối hợp.

Theo GS. Nguyễn Quốc Dũng, Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành yêu cầu bắt buộc để nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa và khai thác bền vững tài nguyên nước.

Dù hành lang pháp lý từng bước hoàn thiện, quá trình thể chế hóa chính sách còn chậm. Cơ chế quản lý hồ thủy lợi và thủy điện trên cùng lưu vực chưa đồng bộ; dữ liệu quan trắc phân tán, thiếu chuẩn kết nối, trong khi năng lực công nghệ và quy chuẩn kỹ thuật chưa đáp ứng thực tiễn. Hiện chỉ khoảng 17% hồ chứa được trang bị thiết bị khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động.

TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, cho biết, nếu dự báo khí tượng thủy văn trả lời “trời sẽ mưa bao nhiêu, sông có bao nhiêu nước”, thì kịch bản nguồn nước giải đáp câu hỏi trực tiếp hơn: “Nước có đủ cho các nhu cầu không? Thiếu ở đâu và thiếu vào thời điểm nào?”.

Chương IV, Luật Tài nguyên nước chuyển trọng tâm từ khai thác, sử dụng sang điều hòa, phân phối nước giữa các ngành, địa phương. Lần đầu tiên, việc xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước được luật hóa; đồng thời xác lập yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu ở hạ du, phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm của các bên khai thác, sử dụng nước.

Kịch bản được xây dựng theo 3 trạng thái: bình thường, thiếu nước và thiếu nước nghiêm trọng. Đây là căn cứ lập kế hoạch dài hạn, hàng năm; điều chỉnh vận hành hồ chứa, công trình thủy lợi; phân phối nước ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn; kết nối quản lý tài nguyên nước với thủy lợi và thủy điện.

Sau hai mùa cạn triển khai, phạm vi áp dụng kịch bản ngày càng mở rộng: từ 8/16 lưu vực trong mùa cạn 2024-2025 lên 13/16 trong giai đoạn 2026-2027. Gần như các lưu vực sông lớn, quan trọng đã có kịch bản, tạo cơ sở chủ động hơn trong phân bổ và điều hành nguồn nước.

Hiệu quả thực thi còn phụ thuộc chất lượng dữ liệu, phối hợp vận hành và khả năng hài hòa lợi ích giữa các địa phương, ngành sử dụng nước. Khi nguồn nước phân bố không đồng đều, xác định nơi thừa, nơi thiếu và tổ chức chuyển nước trở thành yêu cầu cấp thiết.

Ông Phạm Công Thành, Trưởng phòng Quy hoạch thủy lợi Bắc Trung bộ, Viện Quy hoạch Thủy lợi, cho biết nhu cầu dùng nước toàn vùng hiện khoảng 10,8 tỷ m³, dự kiến đạt 11,72 tỷ m³ vào năm 2050; lượng thiếu hụt tương lai khoảng 2,9 tỷ m³/năm. Nhu cầu tăng tại các khu đô thị, khu kinh tế ven biển và vùng ven đường Hồ Chí Minh, trong khi khả năng xây dựng hồ lớn tại chỗ hạn chế. Địa hình dốc theo hướng Tây sang Đông tạo thuận lợi hình thành các tuyến chuyển nước.

Theo ông Thành, lựa chọn phương án chuyển nước phải dựa trên cân bằng nước, xác định khu vực và công trình thừa, thiếu. Nơi chuyển nước cần đáp ứng đủ nhu cầu tại chỗ trước khi cấp cho khu vực khác. Các tuyến kết nối phải bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, an toàn công trình, không cản trở thoát lũ; đồng thời đánh giá tác động đến sinh kế, an sinh xã hội, hiệu quả kinh tế và cơ sở pháp lý.

Gỡ điểm nghẽn hạ tầng và dữ liệu nguồn nước

Thực tế vận hành thủy lợi cho thấy, thiếu nước không chỉ do tổng lượng nước mà còn bởi khả năng phân phối đến đúng nơi, đúng thời điểm. Biến đổi khí hậu khiến dòng chảy thất thường, trong khi hạ tầng lấy nước và cơ chế phối hợp chưa đáp ứng yêu cầu.

 Gỡ điểm nghẽn điều hòa nguồn nước, nâng hiệu quả vận hành hồ chứa       ảnh: minh họa
Gỡ điểm nghẽn điều hòa nguồn nước, nâng hiệu quả vận hành hồ chứa ảnh: minh họa

Ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, cho biết mưa ngày càng thất thường, mùa lũ có thể xuất hiện mưa lớn vượt tần suất thiết kế, còn mùa khô thường xuyên thiếu nước. Đáng chú ý, mực nước sông Hồng tại Xuân Quan duy trì thấp, khiến lượng nước lấy qua cống chỉ đạt khoảng 20% công suất thiết kế.

Để khắc phục, ông Chính đề xuất ưu tiên điều hòa, phân phối nước liên vùng; đẩy nhanh xây dựng đập dâng Xuân Quan trên sông Hồng, Long Tửu trên sông Đuống và một đập trên sông Đà. Đồng thời, cần phối hợp vận hành các công trình trên hệ thống sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình và sông Luộc nhằm chủ động cấp nước, ứng phó hạn hán, tiêu úng.

Đại diện Công ty Bắc Hưng Hải kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương ưu tiên nguồn lực thực hiện Đề án phát triển tổng thể hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải theo Quyết định số 4160/QĐ-BNNMT ngày 8/10/2025. Công tác kiểm soát nguồn thải, xử lý nghiêm hành vi gây ô nhiễm và lấn chiếm dòng chảy cũng cần được tăng cường để bảo đảm hiệu quả điều tiết lâu dài.

Bên cạnh hạ tầng, liên thông dữ liệu và quy trình vận hành là những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Theo ông Trần Anh Phương, Phó tổng giám đốc Công ty CP Sông Đà 9, cần thu gọn đầu mối quản lý, tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, giảm áp lực báo cáo hành chính cho nhà máy thủy điện nhỏ.

Doanh nghiệp cũng đề nghị sớm ban hành hướng dẫn chi tiết, tổ chức tập huấn về các kịch bản vận hành, nhất là tình huống mất liên lạc hoàn toàn khi thiên tai nghiêm trọng, nhằm bảo đảm an toàn và khả năng ứng phó theo quy trình.

GS. Nguyễn Quốc Dũng cho rằng nghiên cứu cần chuyển từ thế mạnh riêng của từng đơn vị sang giải quyết “bài toán thực địa” tại mỗi lưu vực sông. Cần bố trí kinh phí thường xuyên để cập nhật dữ liệu, bảo trì, nâng cấp mô hình sau khi đề tài, dự án kết thúc, tránh lãng phí nguồn lực.

Theo ông Dũng, hạ tầng số quốc gia và hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) cần được phát triển thống nhất. DSS và bản sao số (Digital Twin) nên dùng chung trong vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, kết nối hệ sinh thái số ngành nước. Các chủ hồ thủy lợi, thủy điện cần chia sẻ dữ liệu quan trắc thời gian thực với trung tâm điều hành lưu vực sông, khắc phục tình trạng thông tin phân tán.

Về thể chế, ông Dũng kiến nghị xây dựng bộ quy chuẩn quốc gia thống nhất về an toàn đập và quan trắc khí tượng thủy văn, áp dụng cho cả hồ thủy điện và thủy lợi. Đồng thời, cần ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật cho dịch vụ DSS, tạo cơ sở thuê hạ tầng công nghệ, chuyên gia và thúc đẩy xã hội hóa.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/an-ninh-nguon-nuoc-can-ket-noi-ha-tang-du-lieu-va-trach-nhiem-189332.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.