![]() |
| Hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” |
Nhu cầu vốn tăng mạnh, thị trường còn mất cân đối
Ngày 22/10, Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức Hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, mục tiêu tăng trưởng cao đã được cụ thể hóa tại Kết luận 18 và các nghị quyết liên quan. Bài toán quan trọng hàng đầu là huy động nguồn lực tài chính, khơi thông dòng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Theo tính toán, tổng nhu cầu vốn huy động giai đoạn 2026-2030 khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi mức 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021-2025. Trong đó, vốn đầu tư từ Nhà nước dự kiến đạt 12,5 triệu tỷ đồng; riêng vốn đầu tư công khoảng 8,3-8,5 triệu tỷ đồng, so với khoảng 4,8 triệu tỷ đồng trong 5 năm trước.
Vốn đầu tư ngoài nhà nước dự kiến tăng từ 9,8 triệu tỷ đồng lên 20,4 triệu tỷ đồng; vốn đầu tư khu vực FDI tăng từ 2,8 triệu tỷ đồng lên 5,6 triệu tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá so sánh dự kiến tăng từ 11,3 triệu tỷ đồng lên khoảng 20 triệu tỷ đồng.
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, quy mô nguồn lực cần huy động đòi hỏi phát huy đồng bộ các kênh vốn ngân sách và ngoài ngân sách, đồng thời cải thiện cơ chế phân bổ, sử dụng vốn.
Ông Nguyễn Viết Việt, Tổng biên tập Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam nhận định, Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, tiến tới trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Nền kinh tế không chỉ cần gia tăng đầu tư và tín dụng mà còn phải tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thực tế, nhiều dự án đình trệ do vướng mắc pháp lý, đất đai và thủ tục hành chính; không ít doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, trong khi sức mua và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế. Vì vậy, tháo gỡ vướng mắc cần đi đôi với khơi thông dòng vốn, cải thiện sức cầu và bảo đảm sự vận hành đồng bộ giữa thể chế, đầu tư, tín dụng và thị trường vốn.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia cho rằng, nguồn lực tài chính Việt Nam mất cân đối do phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng. Giai đoạn 2020 đến 9 tháng đầu năm 2026, tín dụng ngân hàng chiếm 50,2% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế. Các kênh còn lại gồm đầu tư công chiếm 15,5%, vốn FDI chiếm 12,4%, vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân chiếm 8,8%, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp chiếm 10% và phát hành cổ phiếu chiếm 3,1%.
Theo TS. Cấn Văn Lực, áp lực thanh khoản gia tăng khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn. Chênh lệch giữa tổng dư nợ tín dụng và tiền gửi lên tới khoảng 2 triệu tỷ đồng tính đến cuối tháng 9/2026. Trong khi đó, thị trường vốn chưa phát triển tương xứng.
Cuối tháng 9/2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam đạt 79,46% GDP, thấp hơn Mỹ (246,22%), Nhật Bản (183,32%), Hàn Quốc (143,11%) và Ấn Độ (140,59%). Thị trường trái phiếu cũng còn khiêm tốn, với dư nợ trái phiếu Chính phủ đạt 19,4% GDP và dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đạt 7,7% GDP tính đến hết quý II/2026.
Gỡ điểm nghẽn, mở rộng nguồn vốn dài hạn
TS. Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia tài chính chỉ ra điểm nghẽn từ vĩ mô, dòng vốn và doanh nghiệp. GDP 9 tháng đầu năm tăng 9,01%, nhưng tăng trưởng chưa lan tỏa tương xứng đến doanh nghiệp trong nước. Công nghiệp và xây dựng đóng góp 50% mức tăng giá trị tăng thêm, dịch vụ 45%, nông, lâm nghiệp và thủy sản 5%; chỉ 12/34 địa phương đạt GRDP tăng từ 10% trở lên.
![]() |
| TS. Nguyễn Đức Hiển phát biểu tại hội thảo |
Doanh nghiệp nội địa chịu sức ép về chi phí đầu vào, tiếp cận vốn, công nợ. CPI bình quân tăng 4,52%, lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% theo giá hiện hành, 7,6% theo giá so sánh. Khu vực ngoài Nhà nước đóng góp 1.649 nghìn tỷ đồng, Nhà nước 931 nghìn tỷ đồng, FDI 529 nghìn tỷ đồng.
Theo bà Hà, giải ngân đầu tư công đạt 62,9% kế hoạch; địa phương đạt 73,6%, khối trung ương 44,1%. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4% theo giá danh nghĩa, tương đương 7,8% sau khi loại trừ giá. Chín tháng, xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, nhập khẩu 453,72 tỷ USD, nhập siêu 19,42 tỷ USD. Xuất khẩu trong nước tăng 8%, FDI tăng 29%.
Bà Hà đề xuất phương châm “ổn định trước, khơi thông sau”. Quý IV/2026, cần neo giữ kỳ vọng, điều hành tỷ giá linh hoạt ở mức 2-3%/năm; ưu tiên hoán đổi (swap), hợp đồng kỳ hạn thay vì bán ngoại tệ giao ngay. Đồng thời, bơm thanh khoản dài hạn qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), điều hòa tồn quỹ Kho bạc Nhà nước về ngân hàng, bình ổn giá xăng dầu.
Về dài hạn, cần tái tạo dự trữ ngoại hối tối thiểu tương đương ba tháng nhập khẩu, áp dụng điều hành lạm phát mục tiêu linh hoạt, phát triển trái phiếu doanh nghiệp giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng. Bà Hà đề nghị giải phóng dòng tiền qua hoàn thuế, tài trợ theo hợp đồng, tháo gỡ vướng mắc vật liệu tại dự án hạ tầng trọng điểm và xử lý tài sản công dôi dư.
Theo ông Hiển, phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu và công cụ nợ giúp đa dạng hóa vốn. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần hoàn thiện cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài, quản lý rủi ro ngoại hối và khơi thông vốn từ các quỹ, kể cả quỹ bảo hiểm xã hội. Trái phiếu doanh nghiệp cần nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng Việt Nam cần khai thác nhiều nguồn tài lực mới, gồm tài chính xanh và tài chính bền vững quốc tế, thặng dư thương mại, kiều hối, nguồn vốn từ việc nâng hạng thị trường chứng khoán, nâng hệ số tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư”, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng, cùng các thị trường tài sản số, tài sản mã hóa và thị trường carbon.
Vàng trong dân, vốn ách tắc tại dự án, tài sản công dôi dư và tiết kiệm từ chống lãng phí có thể tạo dòng vốn lớn. Đề án 1413 đặt mục tiêu huy động qua thị trường vốn đạt 28–30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2030, 30–35% năm 2045; đáp ứng 60–65% nhu cầu vay Chính phủ qua trái phiếu. 100% ngân hàng thương mại tiệm cận Basel III và 75% người trưởng thành có lịch sử tín dụng.
TS. Cấn Văn Lực đề xuất 8 nhóm giải pháp tái cấu trúc thị trường tài chính như hoàn thiện thể chế, kiểm soát rủi ro, đa dạng hóa vốn và nâng hiệu quả phân bổ. Trọng tâm là phát triển cân bằng thị trường vốn, phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ, khơi thông dự án tồn đọng, tài sản công dôi dư và phát huy vai trò các quỹ tài chính. Đây là nền tảng cho tăng trưởng bền vững hơn.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/nhu-cau-von-385-trieu-ty-dong-bai-toan-khoi-thong-dong-tien-cho-tang-truong-189481.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.