| Nhiều doanh nghiệp khuyến mại, kích cầu tiêu dùng dịp lễ
|
![]() |
| Khách hàng lựa chọn hàng hóa tại siêu thị thuộc hệ thống Saigon Co.op trong đợt khuyến mại tri ân khách hàng. Ảnh: DN |
Chi phí sau chương trình
Theo phản ánh của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều chương trình khuyến mại được thực hiện hợp pháp, trung thực nhưng vẫn còn giải thưởng không có người nhận. Nguyên nhân có thể do hiệu quả không đạt dự kiến hoặc điều kiện khách quan. Thương nhân đã mua giải thưởng hiện vật, chi tiếp thị nhưng vẫn phải nộp ngân sách, gây khó khăn tài chính.
VCCI nêu nội dung này khi trả lời Công văn số 3406/XTTM-QLXT của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương về tổng kết thi hành pháp luật xúc tiến thương mại.
Theo Khoản 4 Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định trích nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố nếu không có người trúng thưởng. Theo VCCI, cơ chế này áp dụng như nhau với mọi giải thưởng còn lại, không phân biệt thương nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng nhận thưởng hay chưa, gây thiệt hại cho doanh nghiệp tuân thủ.
Từ đó, VCCI đề nghị chỉ áp dụng khi thương nhân không bảo đảm điều kiện thuận lợi cho khách hàng nhận thưởng. Số chương trình, số tiền thu nộp và số trường hợp vi phạm cần được tổng kết, công bố để đánh giá chi phí, lợi ích.
Vướng mắc còn phát sinh khi doanh nghiệp trao thưởng chậm vì trở ngại khách quan. Khoản 5 Điều 13 ghi nhận căn cứ này, trong khi khoản 1 Điều 21 chỉ cho phép vượt thời hạn vì bất khả kháng. Theo VCCI, cùng tình huống có thể được chấp nhận để không trích nộp nhưng vẫn bị coi là quá hạn.
VCCI kiến nghị hướng dẫn rõ trở ngại khách quan; bổ sung căn cứ này vào ngoại lệ của thời hạn công bố kết quả trúng thưởng và trao giải, không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc khuyến mại; rà soát khoản 1 Điều 22 cho thống nhất.
Không chỉ ở khâu trao thưởng, doanh nghiệp còn gặp khó khi chương trình kém hiệu quả hoặc phát sinh tình huống ngoài dự kiến. Điều 22 chỉ cho phép dừng trước hạn khi bất khả kháng; hết số lượng hàng hóa, dịch vụ khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hoặc bằng chứng xác định trúng thưởng đã công bố; hoặc cơ quan nhà nước yêu cầu.
Để hài hòa lợi ích, VCCI đề nghị cho thương nhân chủ động dừng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện công khai, bảo vệ khách hàng và thông báo cơ quan quản lý.
VCCI nêu rõ yêu cầu: “Bảo đảm đầy đủ quyền lợi của khách hàng đã tham gia trước thời điểm chấm dứt”.
Theo kiến nghị, việc chấm dứt phải được công khai bằng cách thức đã dùng để công bố chương trình và thông báo cho cơ quan quản lý đã tiếp nhận thông báo hoặc xác nhận đăng ký.
Tháo gỡ từ quy định gốc
VCCI ghi nhận thủ tục xúc tiến thương mại đã nhiều lần được điều chỉnh để giảm chi phí, như thu hẹp diện thông báo khuyến mại, đơn giản hóa hồ sơ. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn vẫn phải tuân thủ luật, nên việc tháo gỡ vướng mắc cần được xem xét từ Luật Thương mại năm 2005.
Theo VCCI, Điều 92 liệt kê hình thức khuyến mại, yêu cầu những hình thức khác phải được chấp thuận, tạo rào cản khi xuất hiện loại hình mới. Với giới hạn giá trị khuyến mại và mức giảm giá tại Điều 94, mục tiêu quản lý chưa rõ; pháp luật cạnh tranh đã có công cụ kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh.
VCCI nhận định: “Việc pháp luật về thương mại đặt ra giới hạn giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại là sự can thiệp hành chính vào quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.”
Vì vậy, VCCI đề nghị xem xét bỏ các quy định gây vướng tại luật, gồm nghĩa vụ thực hiện thủ tục hành chính và trích nộp giá trị giải thưởng không có người trúng.
Ở cấp hướng dẫn, VCCI cho rằng Nghị định 239/2026/NĐ-CP giao Bộ Công Thương quy định hạn mức thay vì quy định tại nghị định chưa phù hợp thẩm quyền theo Luật Thương mại.
Văn bản góp ý đề cập giới hạn giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ không vượt quá 50% giá bán ngay trước khuyến mại. Tổng giá trị dùng để khuyến mại trong một số chương trình cũng bị giới hạn ở 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, có ngoại lệ.
VCCI đề nghị chỉ áp dụng giới hạn với hình thức tại khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại và những hình thức chưa được quy định trong nghị định hướng dẫn.
Cách tính giải thưởng cũng cần rõ hơn khi phiếu giảm giá, phiếu ưu đãi được đối tác tài trợ miễn phí, sử dụng ngoài chương trình. Doanh nghiệp phản ánh tính các phiếu vào tổng giá trị giải thưởng khiến con số vượt xa chi phí thực tế. VCCI đề nghị làm rõ giá trị giải thưởng này.
Về dẫn chiếu, văn bản góp ý nêu Điều 6, Điều 7 của Nghị định 81/2018/NĐ-CP đã bị bãi bỏ, nhưng khoản 1 Điều 10, khoản 2 Điều 11 vẫn dẫn tới hai điều này, khiến doanh nghiệp lúng túng.
Ở khâu thực hiện, VCCI đề nghị làm rõ hồ sơ, cách thức, thời hạn thông báo thời gian, địa điểm phát hành bằng chứng trúng thưởng vào hàng hóa, hoặc đưa vào hồ sơ đăng ký để tránh thủ tục riêng.
Về chứng kiến, Điều 12 yêu cầu đại diện khách hàng, Điều 13 cho phép khách hàng chứng kiến trực tiếp hoặc trực tuyến. VCCI kiến nghị thống nhất cách dùng, làm rõ yêu cầu chữ ký biên bản khi chứng kiến trực tuyến.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/go-vuong-de-doanh-nghiep-chu-dong-khuyen-mai-189736.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.