Phát triển điện hạt nhân: Cần xây dựng lộ trình triển khai khả thi

Phát biểu tại Diễn đàn “Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới” chiều 27/10, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhấn mạnh điện hạt nhân là lĩnh vực còn mới, phức tạp, đặt ra nhiều thách thức. Vì vậy, Việt Nam cần nhìn nhận đúng khó khăn, xác định nhiệm vụ trọng tâm và xây dựng lộ trình triển khai khả thi.
Quyết liệt hơn nữa triển khai các dự án điện hạt nhân Nhiều chính sách ưu đãi đối với sinh viên ngành điện hạt nhân Gần 4.000 nhân lực cho điện hạt nhân: Bài toán không chỉ là đào tạo đủ người
TS. Trần Chí Thành phát biểu tại diễn đàn
TS. Trần Chí Thành phát biểu tại diễn đàn

Lựa chọn công nghệ phải đặt an toàn lên trước

Từ sau tháng 11/2024, khi Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Nghị quyết trong đó có nội dung đồng ý tiếp tục chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, lĩnh vực điện hạt nhân được quan tâm nhiều hơn tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự chú ý không đồng nghĩa với khả năng triển khai nhanh. Đây là lĩnh vực cần trình độ khoa học - công nghệ cao, nhân lực chuyên sâu, cơ chế quản lý chặt chẽ và quá trình chuẩn bị lâu dài.

Theo TS. Trần Chí Thành, điều quan trọng trước mắt là đánh giá đúng năng lực hiện có, chuẩn bị công nghệ, nhân lực và các điều kiện cần thiết, đồng thời giữ lộ trình thực tế, lấy an toàn và hiệu quả làm nền tảng. Ông cho rằng sự phát triển qua các thế hệ lò phản ứng không có nghĩa là thay đổi hoàn toàn nguyên lý công nghệ. Dù nguyên lý cơ bản có thể tương đồng, các thế hệ mới được cải tiến về thiết kế, hệ thống điều khiển, thiết bị và yêu cầu an toàn. Vì vậy, khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam cần lựa chọn công nghệ phù hợp, đồng thời bảo đảm các hệ thống, thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại.

Hiện nay, hai công nghệ lò phản ứng phổ biến trên thế giới là lò nước áp lực (PWR) và lò nước sôi (BWR). Với PWR, nước trong lò được làm nóng rồi truyền nhiệt qua thiết bị sinh hơi để tạo hơi quay tuabin. Hệ thống nước của lò và hệ thống tuabin được tách biệt, góp phần hạn chế nguy cơ nhiễm xạ tại khu vực tuabin. Trong khi đó, BWR tạo hơi trực tiếp trong lò để vận hành tuabin.

TS. Trần Chí Thành chia sẻ, đối với các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, Việt Nam định hướng sử dụng công nghệ lò thế hệ III+, với những lựa chọn có thể gồm VVER-1200 của Nga, AP1000 của Mỹ, APR1400 của Hàn Quốc hoặc EPR1600 của Pháp. Đây là các công nghệ được phát triển theo những yêu cầu an toàn cao.

"Trong nhà máy điện hạt nhân, yêu cầu quan trọng nhất là thiết kế lò và các hệ thống an toàn nhằm kiểm soát vật liệu phóng xạ, ngăn ngừa sự cố và hạn chế tác động đến con người, môi trường. Công trình lò phản ứng được thiết kế với kết cấu bảo vệ kiên cố và nhiều lớp an toàn để ứng phó các tình huống bất thường", TS. Trần Chí Thành cho hay.

Bên cạnh lò công suất lớn, Việt Nam cũng quan tâm đến lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), phù hợp với xu hướng công nghệ quốc tế. Dù vậy, phát triển SMR không đơn giản là hoàn thiện một bản thiết kế. Công nghệ phải trải qua nghiên cứu, thẩm định, cấp phép và chứng minh khả năng vận hành an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế.

Nghị quyết số 70-NQ/TW (ngày 20/8/2025) của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đã đề cập định hướng phát triển công nghệ tiên tiến, trong đó có SMR, đồng thời khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.

SMR mở thêm lựa chọn, nhưng chưa phải lối tắt

Theo TS. Trần Chí Thành, SMR có ưu điểm về tính linh hoạt, quy mô đầu tư và thời gian xây dựng. Do công suất thấp hơn nhà máy điện hạt nhân truyền thống, tổng vốn đầu tư ban đầu có thể giảm đáng kể, chi phí cũng có khả năng giảm khi công nghệ được triển khai ở quy mô lớn.

Tuy nhiên, công nghệ này vẫn đối mặt nhiều thách thức. Nhiều thiết kế chưa được kiểm chứng qua vận hành thương mại, trong khi chi phí sản xuất điện ở những dự án đầu tiên có thể cao. Việc lựa chọn nhiên liệu, bảo đảm nguồn cung dài hạn, kiểm soát an toàn và độ bền vật liệu trong điều kiện nhiệt độ, áp suất, phóng xạ cao đều cần đánh giá kỹ. Địa điểm xây dựng và phương án quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng cũng phải được xem xét riêng theo từng công nghệ.

TS. Trần Chí Thành cho biết, Việt Nam có thể nghiên cứu hợp tác với các đối tác như Mỹ, Nga, Nhật Bản và Hàn Quốc để tiếp cận SMR. Trong đó, công nghệ lò BWRX-300 của Nhật Bản có thể là lựa chọn cần nghiên cứu thêm. Với trung tâm dữ liệu, các lò vi mô công suất khoảng 10 MW cũng đáng được xem xét về tính khả thi và hiệu quả kinh tế.

Việt Nam có thể tự nghiên cứu, thiết kế SMR, nhưng cần thời gian dài để xây dựng năng lực. Hàn Quốc đã mất khoảng 15 năm phát triển một thiết kế SMR. Vì vậy, nếu mục tiêu là triển khai sớm, Việt Nam nên cân nhắc hợp tác hoặc tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài, đồng thời từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế và vận hành trong nước.

Với các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, khối lượng công việc còn rất lớn, từ hoàn thiện hồ sơ địa điểm, cập nhật báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi đến lập, thẩm định báo cáo phân tích an toàn và thiết kế kỹ thuật. Tất cả phải tuân thủ Luật Năng lượng nguyên tử cùng các quy định liên quan, phù hợp thông lệ quốc tế. Vì vậy, tiến độ khó có thể nhanh như kỳ vọng ban đầu; thời điểm vận hành có thể phải lùi đến giai đoạn 2038-2040.

TS. Trần Chí Thành cho rằng, Việt Nam cần triển khai song song hai nhiệm vụ: Phát triển các dự án Ninh Thuận 1 và 2 bằng công nghệ lò thế hệ III+ đã được kiểm chứng về an toàn; đồng thời nghiên cứu, tiếp cận SMR. Với SMR, cần lựa chọn đối tác quốc tế phù hợp, chờ công nghệ hoàn thiện và từng bước xây dựng năng lực trong nước. Cách tiếp cận này giúp duy trì mục tiêu dài hạn mà không đánh đổi các yêu cầu cốt lõi về an toàn.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là nội địa hóa thiết bị, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước. Kinh nghiệm từ ngành nhiệt điện cho thấy Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào thiết bị và công nghệ nhập khẩu. Bởi vậy, phát triển điện hạt nhân cần gắn với chiến lược xây dựng năng lực công nghệ, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu hoàn thành nhà máy.

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cũng cho rằng Việt Nam cần thận trọng, tránh tâm lý lạc quan khi phát triển điện hạt nhân. Đây không chỉ là bài toán công nghệ và an toàn mà còn liên quan đến lựa chọn đối tác, làm chủ công nghệ nền và chiến lược năng lượng dài hạn.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/phat-trien-dien-hat-nhan-can-xay-dung-lo-trinh-trien-khai-kha-thi-189747.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.