Gần 4.000 nhân lực cho điện hạt nhân: Bài toán không chỉ là đào tạo đủ người
| Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận: Cần cơ chế đặc thù để đảm bảo thành công Thủ tướng yêu cầu sớm hoàn thành đàm phán hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 |
Tăng tốc chuẩn bị nhân lực cho điện hạt nhân
Điện hạt nhân không chỉ cần những người đứng trong phòng điều khiển nhà máy. Đằng sau mỗi tổ máy là đội ngũ nghiên cứu, kỹ thuật, an toàn, pháp quy, bảo trì, đào tạo và ứng phó sự cố. Vì thế, chuẩn bị nhân lực cho điện hạt nhân thực chất là xây dựng một hệ sinh thái chuyên môn có khả năng đồng hành với nhà máy trong nhiều thập kỷ.
Khi chương trình điện hạt nhân được khởi động trở lại, Việt Nam đồng thời phải chuẩn bị nhiều điều kiện, từ công nghệ, vốn, cơ chế đầu tư đến nguồn nhân lực và năng lực quản lý an toàn.
![]() |
| Chuẩn bị nhân lực cho điện hạt nhân thực chất là xây dựng một hệ sinh thái chuyên môn có khả năng đồng hành với nhà máy trong nhiều thập kỷ. (Ảnh minh họa) |
Theo Quyết định số 1012/QĐ-TTg ngày 26/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035”, đến năm 2030, nhu cầu nhân lực cho hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 là khoảng 3.900 người.
Cùng với chuẩn bị nhân lực cho các nhà máy, năng lực của cơ quan pháp quy cũng phải được củng cố. Quyết định số 624/QĐ-TTg ngày 6/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường năng lực cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035.
Việc chuẩn bị nhân lực và năng lực pháp quy song song cho thấy điện hạt nhân cần được nhìn nhận như một chương trình dài hạn, thay vì đơn thuần là một dự án xây dựng nhà máy điện.
Một chương trình điện hạt nhân phải trải qua quá trình chuẩn bị đầu tư, xây dựng, cấp phép và vận hành kéo dài nhiều năm. Vòng đời của nhà máy sau đó còn tiếp tục qua các giai đoạn vận hành, bảo dưỡng, kéo dài tuổi thọ, tháo dỡ và quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng. Điều này đòi hỏi chiến lược nhân lực phải được chuẩn bị cho cả vòng đời dự án.
Ông Nguyễn Tuấn Khải, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho rằng, khi nói đến nhân lực điện hạt nhân, không nên chỉ hình dung đội ngũ trực tiếp vận hành nhà máy.
Ngoài lực lượng này còn có các cơ quan nghiên cứu, quản lý nhà nước, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và chính quyền địa phương nơi triển khai dự án. Mỗi nhóm đảm nhiệm một mắt xích khác nhau nhưng đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến an toàn của nhà máy.
Theo phân tích của chuyên gia, với một tổ máy công suất khoảng 1.000 MW, nhu cầu nhân lực có thể lên tới khoảng 1.000 người được đào tạo bài bản tùy thuộc công nghệ, thiết kế và mô hình tổ chức vận hành. Trong đó, khoảng 20-30% có thể là lực lượng nòng cốt trực tiếp vận hành lò phản ứng và các hệ thống quan trọng.
Phần còn lại là kỹ sư, kỹ thuật viên và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như cơ khí, điện - điện tử, tự động hóa, hóa học, bảo trì, xử lý chất thải phóng xạ, an toàn hạt nhân, nghiên cứu, đào tạo và pháp quy.
Như vậy, bài toán chuẩn bị khoảng 3.900 nhân lực cho hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận không đơn thuần là đáp ứng một con số về nhân sự, mà quan trọng hơn là bảo đảm đúng người, đúng chuyên môn và đủ năng lực đảm nhận từng vị trí.
TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho biết, đào tạo nhân lực điện hạt nhân phải tính đến quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài. Để hình thành một lực lượng vận hành nòng cốt, thời gian đào tạo và thực hành có thể kéo dài ít nhất 10 năm.
Người học không chỉ cần kiến thức về vật lý hạt nhân hay lò phản ứng mà còn phải nắm được nhiều lĩnh vực như nhiệt học, hóa học, vật liệu, cơ khí, điện, điều khiển tự động, thiết kế và vận hành nhà máy.
“Muốn vận hành một nhà máy điện hạt nhân, kỹ sư gần như phải hiểu mọi hệ thống trong nhà máy”, TS. Thành nói.
Việt Nam thực tế đã có kinh nghiệm chuẩn bị nhân lực cho dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trước khi chương trình tạm dừng vào năm 2016. Trong giai đoạn chuẩn bị trước đây, hàng trăm sinh viên, cán bộ đã được cử đi đào tạo tại các quốc gia có ngành điện hạt nhân phát triển như Nga, Pháp và Nhật Bản.
Khoảng thời gian chương trình điện hạt nhân tạm dừng sau đó đặt ra yêu cầu phải rà soát, tập hợp, củng cố và cập nhật kiến thức cho nguồn nhân lực đã được đào tạo, đồng thời xây dựng một thế hệ nhân lực mới phù hợp với công nghệ và yêu cầu an toàn hiện nay.
Bài toán khó hơn là giữ người sau đào tạo
Điện hạt nhân là lĩnh vực có yêu cầu chuyên môn cao, thời gian đào tạo dài và đòi hỏi kinh nghiệm thực tế. Chính những đặc thù này khiến bài toán thu hút người học và giữ chân nhân lực trở nên đặc biệt quan trọng.
Theo TS. Đặng Thanh Lương, Trưởng ngành Vật lý Y khoa, Phó Trưởng khoa Y, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, nguyên Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học và Công nghệ), đào tạo nhân lực cần dựa trên nhu cầu thực tế của ngành, xác định rõ từng nhóm năng lực cần có ở mỗi giai đoạn.
Các lĩnh vực nền tảng như công nghệ điện hạt nhân, vật lý hạt nhân, khoa học bức xạ cùng các ngành kỹ thuật liên quan cần được kết nối trong một chương trình đào tạo thống nhất.
Trong khi đó, ngành năng lượng nguyên tử nhiều năm qua vẫn gặp khó trong thu hút sinh viên giỏi. Đặc thù công nghệ phức tạp, thời gian đào tạo dài và yêu cầu công việc cao đồng nghĩa lĩnh vực này phải có chính sách đủ sức cạnh tranh để người học lựa chọn và sẵn sàng theo đuổi lâu dài.
Một bước đi đáng chú ý là Nghị định số 176/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách ưu đãi đối với giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Theo đó, sinh viên cao đẳng, đại học ngành điện hạt nhân học trong nước và có cam kết về làm việc tại nhà máy điện hạt nhân sau khi tốt nghiệp được miễn học phí, ở ký túc xá miễn phí và được cấp sinh hoạt phí hằng tháng bằng hai lần mức lương cơ sở theo thời gian học thực tế. Chính sách này được kỳ vọng tạo thêm sức hút cho các ngành học vốn có yêu cầu đầu vào và quá trình đào tạo tương đối khắt khe.
Hiện có 11 cơ sở được lựa chọn tham gia đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân, gồm các trường đại học, cao đẳng và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ưu đãi trong quá trình đào tạo mới giải quyết được một phần bài toán. Một kỹ sư điện hạt nhân cần nhiều năm học tập, thực hành và tích lũy kinh nghiệm. Vì vậy, nếu sau khi tốt nghiệp không có môi trường làm việc, lộ trình nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ đủ hấp dẫn, nguy cơ dịch chuyển nhân lực sang những lĩnh vực khác vẫn hiện hữu.
Bài toán chính sách do đó cần được tính toán xuyên suốt từ tuyển sinh, đào tạo đến sử dụng nhân lực. Việc bỏ nguồn lực lớn để đào tạo nhưng không giữ được người không chỉ gây lãng phí mà còn ảnh hưởng đến khả năng hình thành đội ngũ chuyên gia kế cận.
Cùng với đó là yêu cầu đào tạo liên tục. Nhân lực điện hạt nhân không thể chỉ học một lần rồi làm việc trong nhiều thập kỷ mà không cập nhật kiến thức. Công nghệ thay đổi, tiêu chuẩn an toàn thay đổi và kinh nghiệm vận hành quốc tế cũng liên tục được bổ sung.
Một vấn đề khác được các chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh là văn hóa an toàn.
TS. Lê Chí Dũng, chuyên gia pháp quy hạt nhân, nguyên Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cho rằng, điện hạt nhân đòi hỏi khả năng làm việc tập thể ở mức rất cao. Mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm với phần việc của mình nhưng đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong một hệ thống được kiểm soát nghiêm ngặt. “Văn hóa an toàn là quan trọng nhất”, ông Dũng nhấn mạnh.
Theo TS. Trần Chí Thành, nhiều sự cố trong ngành hạt nhân trên thế giới có liên quan đến yếu tố con người. Vì vậy, cùng với kiến thức chuyên môn, người lao động phải được rèn luyện tính kỷ luật, khả năng tuân thủ quy trình và nhận diện nguy cơ.
Đây là những yếu tố khó có thể hình thành chỉ qua một vài khóa đào tạo ngắn hạn mà phải được tích lũy qua đào tạo, thực hành và môi trường làm việc thực tế.
TS. Thành cho rằng Việt Nam cần tiếp tục tập hợp những nhân lực đã được đào tạo trước đây, đồng thời đào tạo mới chuyên gia, kỹ sư và kỹ thuật viên theo từng vị trí. Đặc biệt, đội ngũ pháp quy hạt nhân cần được tạo điều kiện học tập và làm việc tại những quốc gia có ngành điện hạt nhân phát triển để tích lũy kinh nghiệm thực tế.
Cùng với đào tạo, việc xây dựng các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về điện hạt nhân cũng được xem là cần thiết để từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành.
PGS.TS. Đinh Văn Châu, Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực cho rằng, con người là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với an toàn nhà máy. Trường Đại học Điện lực đã đề xuất hợp tác với các đối tác quốc tế để xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về điện hạt nhân.
Nếu chỉ đặt mục tiêu có đủ người vào thời điểm nhà máy vận hành, Việt Nam có thể giải quyết được nhu cầu nhân sự trước mắt. Nhưng để làm chủ một chương trình điện hạt nhân kéo dài nhiều thế hệ, yêu cầu lớn hơn là hình thành được đội ngũ có khả năng nghiên cứu, vận hành, quản lý, giám sát và tiếp tục đào tạo thế hệ kế tiếp.
Do đó, bài toán chuẩn bị khoảng 3.900 nhân lực cho hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận đến năm 2030 cần được đặt trong mục tiêu rộng hơn của Đề án phát triển nguồn nhân lực đến năm 2035. Đó thực chất là quá trình xây dựng năng lực quốc gia về điện hạt nhân, trong đó đào tạo người mới, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã có, giữ người giỏi và tích lũy kinh nghiệm phải được tiến hành đồng thời.
Tin liên quan
Tin khác
Ông Mai Hữu Tín làm Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Nghịch lý ngành vận tải xe đầu kéo: Xã hội ‘thừa’ người có bằng lái, doanh nghiệp vẫn thiếu tài xế
Khoảng trống nhân lực an toàn thông tin
Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đáp ứng các ngành công nghệ chiến lược
Nghịch lý thị trường lao động nửa cuối năm 2026
Gắn kết đào tạo với doanh nghiệp - chìa khóa nâng cao năng suất lao động
AI không lấy đi việc làm, mà buộc doanh nghiệp thiết kế lại lực lượng lao động
Lao động lành nghề trở thành "hàng hiếm", doanh nghiệp đẩy mạnh săn tìm nhân lực
Doanh nghiệp xây dựng "khát" nhân lực, trả lương 1 triệu đồng/ngày vẫn không đủ người



