eMagazine

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

KỲ 4: TỪ QUYẾT SÁCH ĐẾN HÀNH ĐỘNG, KIẾN TẠO NÔNG THÔN THỊNH VƯỢNG

Khơi thông nguồn lực tài chính cho phát triển nông thôn không chỉ là bài toán mở rộng tín dụng hay gia tăng độ bao phủ của các dịch vụ ngân hàng. Đó còn là yêu cầu tháo gỡ những rào cản đang hạn chế khả năng tham gia và thụ hưởng của người dân, đổi mới đồng bộ thể chế, công nghệ và phương thức cung ứng, đồng thời nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện. Trên nền tảng quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 mở ra cơ hội chuyển mạnh từ mở rộng tiếp cận sang nâng cao chất lượng thụ hưởng, từ cung ứng những dịch vụ riêng lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái tài chính hiện đại, an toàn, bao trùm, góp phần giải phóng sức sản xuất và hiện thực hóa khát vọng xây dựng nông thôn Việt Nam thịnh vượng.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Toàn cảnh phiên khai mạc trọng thể Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: nguồn LÊ THOA

Một chủ trương đúng mở ra cơ hội phát triển, nhưng để cơ hội ấy đến được với từng hộ sản xuất, từng cơ sở kinh doanh ở nông thôn, còn phải vượt qua khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Khoảng cách ấy hiện hữu trong một vướng mắc chậm được tháo gỡ, một nhu cầu chính đáng chưa được đáp ứng, một phương thức phục vụ chưa theo kịp đời sống. Khơi thông nguồn lực tài chính vì thế cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ và siết chặt kỷ luật thực hiện. Trong tiến trình đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, gắn thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW với Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, những yêu cầu mới từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tạo thêm cơ sở để giải quyết vấn đề từ gốc: nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, đưa quyết sách phát triển thành cơ hội làm ăn và sinh kế bền vững của người dân.

Nghị quyết số 29-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, cần chú trọng nâng cao năng lực chuyển hóa chủ trương thành chương trình hành động phù hợp với từng địa bàn, đơn vị. Đối với tài chính toàn diện, cấp ủy cần lãnh đạo việc nhận diện đúng những rào cản đang hạn chế cơ hội phát triển: thiếu thông tin, thiếu điều kiện tiếp cận vốn, hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu hay phương thức cung ứng dịch vụ chưa phù hợp. Trên cơ sở đó, xác định nhiệm vụ trọng tâm, phân định thẩm quyền, bố trí nguồn lực và thiết lập cơ chế phối hợp, theo dõi đến kết quả giải quyết. Hiệu quả lãnh đạo phải được thể hiện ở khả năng xử lý những vấn đề từ cơ sở, tạo chuyển biến trong điều kiện sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân.

Trong các tổ chức tín dụng, đổi mới phương thức lãnh đạo cần gắn với nâng cao chất lượng quản trị, điều hành và trách nhiệm phục vụ. Cấp ủy định hướng thực hiện nhiệm vụ chính trị, lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát; bộ máy điều hành chủ động quyết định, tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo đúng pháp luật, thẩm quyền và yêu cầu an toàn. Phân định rõ trách nhiệm là cơ sở để phát huy tính chủ động, khắc phục sự chồng chéo, đồng thời ngăn ngừa tình trạng đùn đẩy hoặc lợi dụng trách nhiệm tập thể để làm mờ trách nhiệm cá nhân.

Năng lực tổ chức thực hiện trước hết được quyết định bởi chất lượng đội ngũ. Chính vì thế, trên tinh thần quán triệt Nghị quyết số 30-NQ/TW về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần gắn đào tạo, bố trí và đánh giá cán bộ với yêu cầu thực tiễn, đảm bảo theo nguyên tắc 6 rõ "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền". Thực hiện tài chính toàn diện đòi hỏi cán bộ vừa vững chuyên môn, vừa hiểu đặc điểm sản xuất, chu kỳ sinh kế và khả năng sử dụng dịch vụ của từng nhóm khách hàng. Kết quả công tác cần được xem xét cùng chất lượng tín dụng, hiệu quả sử dụng vốn, mức độ thuận tiện và an toàn của dịch vụ; chú ý điều kiện thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn khó khăn. Qua đó, khuyến khích tinh thần chủ động, trách nhiệm, đồng thời phân biệt sự thận trọng có căn cứ với biểu hiện né tránh, không giải quyết công việc thuộc thẩm quyền.

Cùng với đổi mới phương thức lãnh đạo và xây dựng đội ngũ, việc vận dụng Nghị quyết số 31-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới cần hướng vào bảo đảm sự liêm chính trong thực thi chính sách và phân bổ nguồn lực. Trong lĩnh vực tài chính, mở rộng khả năng tiếp cận phải đi cùng minh bạch điều kiện cung ứng dịch vụ, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa lợi ích nhóm, trục lợi chính sách và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng. Mỗi biểu hiện gây phiền hà, thiếu trách nhiệm hoặc lợi dụng sự hạn chế về hiểu biết tài chính của người dân đều cần được phát hiện, chấn chỉnh kịp thời.

Công tác kiểm tra, giám sát vì vậy phải theo sát quá trình thực hiện, tập trung vào những khâu dễ phát sinh sai phạm, những kiến nghị kéo dài và những khoảng trống trong phục vụ người dân. Cùng với kiểm tra việc chấp hành quy định, cần làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm đối với nhiệm vụ chậm triển khai, vướng mắc chưa được giải quyết và hạn chế chậm được khắc phục. Phản ánh của người thụ hưởng phải được tiếp nhận, đối chiếu và chuyển thành yêu cầu xử lý có thời hạn, có kiểm chứng kết quả. Thực hiện tốt công tác này vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, vừa giúp phát hiện những bất cập trong cơ chế, phương thức phục vụ để điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.

Từ chủ trương của Trung ương, quyết sách lớn của Trung ương đến hành động của từng đơn vị, thước đo xuyên suốt phải là chuyển biến thực chất trong đời sống. Khi người dân tiếp cận dịch vụ thuận lợi, sử dụng nguồn vốn hiệu quả, được bảo vệ quyền lợi và có thêm điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh, tài chính toàn diện mới phát huy đầy đủ ý nghĩa. Đó cũng là sự kiểm chứng năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và trách nhiệm trước Nhân dân của tổ chức đảng, góp phần đưa nghị quyết vào cuộc sống, bồi đắp niềm tin từ những kết quả cụ thể.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà phát biểu tại Diễn đàn Cấp cao Thúc đẩy Công nghệ số - Mở rộng Tiếp cận Tài chính

Kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng lấy Nhân dân làm trung tâm trong đường lối phát triển đất nước, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân”; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “… lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Những quan điểm đó đặt ra yêu cầu gắn giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực với bảo đảm công bằng về cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Trong lĩnh vực tài chính, đây là cơ sở chính trị, lý luận quan trọng để thúc đẩy tài chính toàn diện, không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức mà còn nâng cao chất lượng thụ hưởng, phát huy năng lực tự chủ kinh tế của người dân và doanh nghiệp, nhất là tại khu vực nông thôn.

Từ góc độ cơ quan quản lý nhà nước, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà khẳng định, phát triển tài chính toàn diện là một trong những ưu tiên chiến lược của Chính phủ Việt Nam, gắn với mục tiêu tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững. Theo Phó Thống đốc, việc triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo nền tảng quan trọng để mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển của công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các mô hình đổi mới sáng tạo đang mở ra những cơ hội mới để thúc đẩy chiến lược tài chính toàn diện giai đoạn mới nhanh hơn, sâu rộng và bền vững hơn. Điều quan trọng không chỉ là đưa dịch vụ tài chính đến nhiều người hơn, mà còn bảo đảm người dân ở mọi khu vực, mọi nhóm thu nhập đều có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ an toàn, thuận tiện với chi phí hợp lý. Đây cũng chính là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trên nền tảng những kết quả đã đạt được và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 tiếp tục cụ thể hóa định hướng ấy, hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính có chất lượng, phù hợp với nhu cầu và khả năng của người dân, doanh nghiệp; chú trọng những nhóm dân cư và chủ thể kinh tế còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức. Định hướng đó không chỉ mang ý nghĩa phát triển thị trường tài chính, mà còn thể hiện yêu cầu gắn chính sách kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, mở rộng cơ hội phát triển cho những đối tượng còn chịu nhiều bất lợi.

Vấn đề đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy mở rộng độ bao phủ sang bảo đảm chất lượng tiếp cận và thụ hưởng thực chất. Bởi có tài khoản ngân hàng chưa đồng nghĩa với khả năng sử dụng dịch vụ tài chính thường xuyên, thuận tiện; có điểm giao dịch chưa đồng nghĩa với việc mọi người dân đều có thể tiếp cận; và có nguồn vốn được cung ứng cũng chưa bảo đảm nguồn vốn ấy được sử dụng hiệu quả, phù hợp với nhu cầu phát triển sinh kế. Khoảng cách giữa khả năng tiếp cận trên danh nghĩa và năng lực sử dụng thực tế chính là một trong những rào cản cần được nhận diện và tháo gỡ.

Tài chính toàn diện vì vậy không phải là cung cấp những sản phẩm giống nhau cho mọi đối tượng, càng không phải mở rộng tín dụng bằng mọi giá. Cốt lõi là tạo điều kiện để mỗi người dân có khả năng lựa chọn và sử dụng dịch vụ phù hợp với nhu cầu, điều kiện kinh tế, năng lực tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Công bằng về cơ hội tiếp cận phải đi đôi với hiệu quả sử dụng nguồn lực, kỷ luật thị trường và yêu cầu bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính.

Đối với khu vực nông thôn, cách tiếp cận ấy đòi hỏi phải nhận diện đầy đủ sự khác biệt giữa các nhóm dân cư và chủ thể kinh tế. Người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thể gặp khó khăn về khoảng cách địa lý, hạ tầng và khả năng tiếp nhận thông tin. Hộ nghèo, hộ thu nhập thấp thường có nhu cầu tích lũy nhỏ, dòng tiền không ổn định và khả năng dự phòng hạn chế. Phụ nữ, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc những người ít có điều kiện tiếp cận công nghệ có thể cần những phương thức hỗ trợ phù hợp hơn trong giao dịch và sử dụng dịch vụ.

Những khác biệt đó đặt ra yêu cầu chuyển từ cách cung ứng chủ yếu dựa trên đặc điểm sản phẩm sang cách phục vụ xuất phát từ nhu cầu và điều kiện thực tế của người sử dụng. Đối với mỗi nhóm đối tượng, cần xác định đúng rào cản chủ yếu để có giải pháp tương ứng, tránh tình trạng chính sách được thiết kế theo hướng bao phủ rộng nhưng chưa đáp ứng đầy đủ những nhu cầu cụ thể tại cơ sở.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Từ thực tiễn triển khai mô hình điểm giao dịch lưu động bằng ô tô của Agribank tại xã Quảng Lợi, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, có thể thấy rõ ý nghĩa của việc đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ tài chính theo hướng lấy người dân làm trung tâm. Trước đây, khoảng cách từ nơi cư trú đến chi nhánh ngân hàng không chỉ khiến người dân mất thời gian đi lại mà còn làm gia tăng những lo ngại về an toàn khi thực hiện giao dịch. Khi dịch vụ ngân hàng được đưa về tận địa bàn xã, những trở ngại ấy từng bước được tháo gỡ. Ông Bùi Văn Chân, người dân địa phương, chia sẻ rằng nay có thể tranh thủ đến Ủy ban xã giao dịch rồi trở về làm việc nhà, vừa tiết kiệm thời gian, vừa yên tâm hơn. Bà Phạm Thị Toan, Tổ trưởng Tổ vay vốn Hội Phụ nữ xã Quảng Lợi, cũng đánh giá cao sự thuận tiện, nhanh gọn trong thực hiện thủ tục và việc phục vụ nhu cầu giao dịch, trả nợ của người dân địa phương. Từ một mô hình cụ thể, có thể nhận thấy giá trị của tài chính toàn diện không chỉ nằm ở việc mở rộng mạng lưới hay đưa thêm dịch vụ đến nông thôn, mà còn ở khả năng tháo gỡ những rào cản trong đời sống, giảm chi phí tiếp cận và tạo điều kiện để người dân sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức một cách thuận tiện, phù hợp hơn.

Đặc biệt, trong quá trình thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt đối với lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chính sách an sinh xã hội, cần đặt quyền lợi và sự thuận tiện của người thụ hưởng ở vị trí trung tâm. Đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng và những trường hợp gặp khó khăn trong đi lại hoặc sử dụng công nghệ, cần có phương thức hướng dẫn, hỗ trợ và chi trả phù hợp; bảo đảm các thủ tục xác thực, ủy quyền theo quy định được thực hiện thuận tiện, an toàn, không làm phát sinh thêm những trở ngại không cần thiết.

Cùng với mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, cần chú trọng nâng cao năng lực tự chủ của người dân trong quản lý và sử dụng các nguồn lực. Đối với hộ nông dân, giá trị của tài chính toàn diện không dừng ở khoản vay phục vụ sản xuất, mà còn thể hiện ở khả năng tích lũy, quản lý dòng tiền và chủ động ứng phó với rủi ro. Với hộ kinh doanh, đó là điều kiện để minh bạch hóa hoạt động tài chính, nâng cao uy tín và mở rộng cơ hội tham gia thị trường. Đối với những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, các dịch vụ phù hợp có thể trở thành điểm tựa giúp ổn định sinh kế, giảm thiểu tác động của những biến động bất lợi.

Từ yêu cầu đó, phát triển bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm vi mô cần được coi là một cấu phần quan trọng của tài chính toàn diện, góp phần khắc phục khoảng trống về công cụ chia sẻ rủi ro đã bộc lộ trong thực tiễn. Nghị định số 346/2026/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp tối đa 95% đối với cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; 50% đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp khác và 30% đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở chính sách để mở rộng phạm vi thụ hưởng. Vấn đề đặt ra là tổ chức thực hiện hiệu quả, phát triển các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với đặc điểm sản xuất từng vùng, ứng dụng dữ liệu thời tiết, năng suất, thiên tai, dịch bệnh trong đánh giá rủi ro; đồng thời đơn giản hóa thủ tục bồi thường, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, hợp tác xã và người sản xuất. Qua đó, từng bước chuyển từ bị động khắc phục tổn thất sang chủ động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro, bảo vệ thành quả sản xuất và khả năng phục hồi sinh kế.

Bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau không có nghĩa là xóa bỏ mọi khác biệt về điều kiện tiếp cận, mà là khắc phục những rào cản bất hợp lý, tạo cơ hội để mỗi người dân được lựa chọn và sử dụng dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu, điều kiện và năng lực của mình. Giá trị bao trùm của chính sách vì thế phải được đo bằng khả năng thụ hưởng thực chất, thay vì chỉ bằng số lượng tài khoản, khoản vay hay sản phẩm được cung ứng.

Ở bình diện rộng hơn, thu hẹp khoảng cách tiếp cận tài chính chính là mở rộng khả năng tham gia và đóng góp của người dân vào quá trình phát triển. Khi nguồn lực được phân bổ phù hợp, năng lực quản lý tài chính được nâng cao và những rủi ro sinh kế được kiểm soát tốt hơn, tiềm năng của từng hộ gia đình, từng cộng đồng sẽ có điều kiện chuyển hóa thành sức sản xuất và giá trị kinh tế.

Không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiếp cận tài chính, tín dụng, xét đến cùng, không chỉ là yêu cầu về công bằng xã hội, mà còn là điều kiện để giải phóng sức sản xuất, phát huy nguồn lực con người và tạo dựng nền tảng cho một nền kinh tế nông thôn phát triển bao trùm, bền vững.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Để tài chính toàn diện thực sự trở thành động lực phát triển, cần tạo bước chuyển mạnh mẽ từ mở rộng khả năng tiếp cận sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thụ hưởng dịch vụ tài chính. Trong đó, đổi mới thể chế, phát triển hạ tầng công nghệ và đa dạng hóa phương thức cung ứng phải được triển khai đồng bộ, lấy nhu cầu của người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tiếp cận thực chất làm thước đo.

Trước hết, đột phá về thể chế phải giữ vai trò mở đường, tạo lập môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển những mô hình dịch vụ phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng minh bạch, đồng bộ, có tính dự báo; rà soát, đơn giản hóa thủ tục, nâng cao hiệu quả xác thực thông tin và chia sẻ dữ liệu; tạo điều kiện để các tổ chức tài chính phát triển sản phẩm, mở rộng kênh phân phối và ứng dụng công nghệ trong cung ứng dịch vụ. Quá trình đổi mới phải gắn với tăng cường quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu, quyền lợi khách hàng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.

Đối với khu vực nông thôn, cần đặc biệt chú trọng tính liên thông giữa chính sách tài chính với chính sách phát triển nông nghiệp, đất đai, doanh nghiệp, kinh tế tập thể, chuyển đổi số và an sinh xã hội. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng và các chủ thể liên quan sẽ tạo điều kiện kết nối thông tin, tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực hiện, đưa chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng. Quan trọng hơn, cần chuyển từ cách tiếp cận chính sách theo từng lĩnh vực riêng lẻ sang tư duy tích hợp nguồn lực, gắn cung ứng dịch vụ tài chính với tổ chức sản xuất, liên kết thị trường và nâng cao năng lực phát triển của các chủ thể kinh tế nông thôn.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Ngành Ngân hàng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Cùng với thể chế, đột phá về hạ tầng số và dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng khả năng tiếp cận, giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính. Trong điều kiện chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công nghệ đang tạo ra những phương thức kết nối mới giữa tổ chức cung ứng và người sử dụng dịch vụ, từng bước giảm sự phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và phương thức giao dịch truyền thống. Đối với khu vực nông thôn, lợi thế này đặc biệt quan trọng khi điều kiện phân bố dân cư, hạ tầng và mạng lưới cung ứng dịch vụ còn có sự khác biệt giữa các địa bàn.

Việc phát triển hạ tầng thanh toán, mở rộng khả năng kết nối và khai thác dữ liệu có thể hỗ trợ đơn giản hóa quy trình, xác thực khách hàng, đánh giá rủi ro, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức cung ứng. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong tài chính toàn diện không thể được hiểu đơn thuần là chuyển giao dịch từ phương thức trực tiếp sang môi trường điện tử. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới toàn diện quy trình và phương thức phục vụ, qua đó tạo ra những dịch vụ thuận tiện, an toàn, có chi phí phù hợp với điều kiện của người dân.

Trong quá trình đó, việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ pháp luật, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và quyền riêng tư của người sử dụng. Công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận, chứ không làm phát sinh những hình thức bất bình đẳng mới. Vì vậy, cần kết hợp hài hòa giữa các kênh cung ứng hiện đại với mạng lưới phục vụ trực tiếp và những phương thức hỗ trợ phù hợp tại địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Bà Nguyễn Thị Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, tại Tọa đàm “Thúc đẩy tài chính toàn diện - Động lực từ thanh toán không dùng tiền mặt”

Từ góc độ cơ quan quản lý, bà Nguyễn Thị Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt như một “cửa ngõ” để người dân tiếp cận hệ thống tài chính. Theo bà, từ những giao dịch thanh toán ban đầu, khách hàng có thể từng bước sử dụng các dịch vụ tiết kiệm, đầu tư, bảo hiểm; đồng thời, việc giao dịch không phụ thuộc vào các điểm giao dịch vật lý góp phần giảm rào cản về không gian, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đáng chú ý, dữ liệu phát sinh từ hoạt động thanh toán còn tạo thêm cơ sở để các tổ chức cung ứng nhận diện nhu cầu, thiết kế sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng, trong đó có các nhóm yếu thế. Nhìn từ yêu cầu phát triển tài chính toàn diện, những phân tích này cho thấy thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ là phương thức giao dịch hiện đại, mà còn có thể trở thành nền tảng kết nối người dân với hệ sinh thái tài chính chính thức, mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ phù hợp và nâng cao tính minh bạch, an toàn trong giao dịch.

Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng tài khoản và giao dịch mới phản ánh một phương diện của quá trình phát triển. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng, tính thuận tiện, an toàn và hiệu quả sử dụng dịch vụ. Đối với khu vực nông thôn, chuyển đổi ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: thành công của thanh toán số không chỉ được đo bằng số lượng giao dịch phát sinh, mà phải được thể hiện ở khả năng người dân sử dụng dịch vụ thường xuyên, với chi phí hợp lý, giảm bớt những trở ngại trong tiếp cận và từng bước nâng cao năng lực quản lý tài chính. Từ “lượng” sang “chất” vì vậy không đơn thuần là sự thay đổi trong định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, mà còn phản ánh yêu cầu chuyển từ mở rộng độ bao phủ sang nâng cao chất lượng thụ hưởng, lấy lợi ích thực chất của người dân làm thước đo hiệu quả của tài chính toàn diện.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Minh chứng là nền tảng MISA Lending, theo thông tin doanh nghiệp công bố, cho phép nộp hồ sơ trong 5 phút, phê duyệt trong 1 ngày, hỗ trợ tiếp cận khoản vay không cần tài sản bảo đảm, với tổng giá trị giải ngân được hỗ trợ đạt 40.000 tỷ đồng. Mô hình này cho thấy tiềm năng kết hợp giữa năng lực cung ứng vốn của ngân hàng với lợi thế công nghệ, dữ liệu của Fintech. Tuy nhiên, đa dạng hóa mô hình cung ứng phải đi đôi với hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phân định rõ trách nhiệm giữa các bên, tăng cường quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu và quyền lợi khách hàng. Đổi mới không phải để hạ thấp chuẩn mực an toàn tín dụng, mà để mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính trên cơ sở đánh giá đầy đủ, thực chất hơn năng lực và khả năng trả nợ của từng chủ thể kinh tế.

Song song với đó cần xác định đổi mới sản phẩm, dịch vụ là khâu trực tiếp quyết định mức độ phù hợp và giá trị sử dụng của tài chính toàn diện. Một hệ thống tài chính hiện đại không chỉ cần có nhiều sản phẩm, mà quan trọng hơn là phải có những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của từng nhóm khách hàng, phù hợp với đặc điểm thu nhập, phương thức sản xuất, khả năng chi trả và mức độ chấp nhận rủi ro.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Bảo hiểm vi mô, bảo hiểm nông nghiệp góp phần hỗ trợ người dân phòng ngừa, chia sẻ rủi ro trước tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường

Đối với khu vực nông thôn, sự đa dạng về ngành nghề, quy mô hoạt động và chu kỳ sản xuất đòi hỏi các tổ chức cung ứng phải có cách tiếp cận linh hoạt hơn trong thiết kế dịch vụ. Những sản phẩm tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp cần được xem xét phù hợp với đặc điểm mùa vụ, chu kỳ tạo thu nhập và khả năng trả nợ; các dịch vụ tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm cần hướng tới tính thuận tiện, dễ sử dụng, minh bạch và chi phí hợp lý. Việc đa dạng hóa sản phẩm phải gắn với nâng cao chất lượng phục vụ, tăng khả năng lựa chọn và giảm những chi phí không cần thiết cho người sử dụng.

Đặc biệt, cần chú trọng phát triển bảo hiểm vi mô, bảo hiểm nông nghiệp và những công cụ tài chính có khả năng hỗ trợ người dân phòng ngừa, chia sẻ rủi ro trước tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường. Đối với bảo hiểm nông nghiệp, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng số lượng sản phẩm, mà còn phải từng bước hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia trên cơ sở phân bổ rủi ro hợp lý, nâng cao năng lực tài chính, quản trị rủi ro, phát triển mạng lưới phân phối và tăng cường phối hợp với chính quyền, các tổ chức tại cơ sở. Khi các công cụ bảo vệ tài chính được phát triển phù hợp, người dân sẽ có thêm điều kiện chủ động ứng phó trước những biến động, hạn chế nguy cơ đứt gãy sinh kế và tái nghèo do các cú sốc bất lợi.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
Mô hình kinh tế tuần hoàn tại Vinamilk

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển tài chính toàn diện còn đòi hỏi mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính phục vụ chuyển đổi phương thức sản xuất. Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy tài chính bền vững, tài chính khí hậu, khuyến khích phát triển các sản phẩm tài chính xanh, tín dụng xanh nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn. Đối với khu vực nông thôn, định hướng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư ứng dụng công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường.

Vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng nguồn vốn cho chuyển đổi xanh, mà quan trọng hơn là tạo lập những cơ chế và sản phẩm tài chính phù hợp để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nông thôn có khả năng tham gia và thụ hưởng thành quả của quá trình chuyển đổi. Thực tiễn phát triển các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, từ kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tái sử dụng phụ phẩm đến tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, cho thấy nhu cầu ngày càng lớn về vốn đầu tư công nghệ, thiết bị và hạ tầng sản xuất. Điều đó đòi hỏi phát triển các sản phẩm tín dụng xanh phù hợp với chu kỳ sản xuất, khả năng tạo dòng tiền và mức độ rủi ro của từng mô hình; đồng thời tăng cường kết nối tín dụng với bảo hiểm, hỗ trợ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Tài chính toàn diện, vì vậy, không chỉ mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực, mà còn phải tạo điều kiện để các chủ thể quy mô nhỏ tham gia chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực sản xuất và giá trị thụ hưởng từ tăng trưởng.

Tuy nhiên, đổi mới sản phẩm và mở rộng tín dụng không đồng nghĩa với nới lỏng những nguyên tắc an toàn. Việc cung ứng vốn phải gắn với khả năng hấp thụ, hiệu quả phương án sản xuất, kinh doanh và năng lực trả nợ của khách hàng. Phát triển tài chính toàn diện phải bảo đảm hài hòa giữa mở rộng cơ hội tiếp cận với quản trị rủi ro, bảo vệ quyền lợi người sử dụng và duy trì sự ổn định, an toàn của hệ thống tài chính.

Một trụ cột không thể thiếu là nâng cao hiểu biết tài chính, kỹ năng số và tăng cường bảo vệ người sử dụng dịch vụ. Bởi ngay cả khi hạ tầng và sản phẩm đã được mở rộng, tài chính toàn diện vẫn khó đạt hiệu quả nếu người dân thiếu kiến thức để lựa chọn, sử dụng dịch vụ phù hợp hoặc không đủ khả năng nhận diện những rủi ro có thể phát sinh.

Việc phổ biến kiến thức tài chính cần được đổi mới theo hướng thiết thực, dễ hiểu, gắn với nhu cầu và tình huống thực tế của từng nhóm đối tượng. Đối với người dân nông thôn, nội dung không chỉ là cách sử dụng tài khoản, thanh toán điện tử hay tiếp cận tín dụng, mà còn bao gồm kỹ năng quản lý thu nhập, chi tiêu, tích lũy, nhận biết chi phí và nghĩa vụ tài chính, phòng ngừa rủi ro và bảo vệ thông tin cá nhân. Cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, hợp tác xã, chính quyền cơ sở và các tổ chức cung ứng dịch vụ trong tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ an toàn, hiệu quả.

Cùng với đó, bảo vệ người tiêu dùng tài chính phải được tăng cường trên cả phương diện hoàn thiện quy định, nâng cao trách nhiệm của tổ chức cung ứng và củng cố năng lực tự bảo vệ của người dân. Những hành vi gian lận, lừa đảo trên môi trường số không chỉ gây thiệt hại kinh tế, mà còn có thể làm suy giảm niềm tin và trở thành rào cản đối với quá trình mở rộng dịch vụ tài chính chính thức. Bởi vậy, xây dựng niềm tin, bảo đảm an toàn và nâng cao năng lực sử dụng dịch vụ phải được coi là những điều kiện thiết yếu của phát triển tài chính toàn diện bền vững.

Nhìn tổng thể, những đột phá về thể chế, hạ tầng số và dữ liệu, mô hình cung ứng, sản phẩm dịch vụ, hiểu biết tài chính và bảo vệ người sử dụng có quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau. Thể chế phù hợp tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo; hạ tầng hiện đại hỗ trợ mở rộng phạm vi phục vụ; mô hình cung ứng đa dạng và sản phẩm phù hợp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng; còn kiến thức và niềm tin của người dân quyết định khả năng tiếp nhận, duy trì và phát huy giá trị của dịch vụ.

Đột phá của tài chính toàn diện vì vậy không chỉ nằm ở việc đưa thêm nguồn vốn hay dịch vụ đến nông thôn, mà ở khả năng đổi mới đồng bộ phương thức kết nối, cung ứng và sử dụng nguồn lực tài chính, hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại, an toàn, xanh và bao trùm, tạo nền tảng cho sự phát triển hiệu quả, bền vững.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Từ chủ trương đến chính sách, từ chính sách đến tổ chức thực hiện và từ tổ chức thực hiện đến những chuyển biến trong đời sống là một quá trình đòi hỏi sự thống nhất về nhận thức, quyết tâm chính trị và năng lực hành động. Đối với tài chính toàn diện, yêu cầu đó càng có ý nghĩa quan trọng bởi đây không phải nhiệm vụ của riêng một ngành, một cơ quan hay một nhóm tổ chức cung ứng dịch vụ, mà là quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể, liên quan trực tiếp đến khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế.

Thực tiễn phát triển đất nước đã khẳng định, tính đúng đắn của chủ trương là điều kiện nền tảng, nhưng hiệu quả tổ chức thực hiện mới quyết định mức độ hiện thực hóa các mục tiêu. Một chiến lược dù được xây dựng với tầm nhìn dài hạn và hệ thống giải pháp tương đối đầy đủ vẫn khó tạo ra chuyển biến thực chất nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ, phân định trách nhiệm rõ ràng, cơ chế giám sát hiệu quả và khả năng điều chỉnh kịp thời trước những yêu cầu mới của thực tiễn. Bởi vậy, thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 phải được đặt trong yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực thi chính sách, gắn với tinh thần hành động quyết liệt, trách nhiệm và lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo.

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các định hướng của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tư nhân và gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội. Những quan điểm lớn của Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết 19-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW và các chủ trương liên quan phải được chuyển hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ và chương trình hành động phù hợp với chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, tổ chức.

Trong quá trình đó, yêu cầu quan trọng là bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược với điều kiện tổ chức thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cần được xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, nguồn lực bảo đảm, tiến độ và kết quả cần đạt. Việc phân công phải đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình, khắc phục tình trạng nhiệm vụ có nhiều chủ thể tham gia nhưng thiếu đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng.

Những mục tiêu cụ thể của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực tổ chức thực hiện. Đến năm 2030, Chiến lược phấn đấu 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; ít nhất 30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 25% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế.

Những chỉ tiêu đó không chỉ thể hiện quyết tâm mở rộng khả năng tiếp cận tài chính, mà còn đặt ra yêu cầu cụ thể hóa thành chương trình hành động, lộ trình thực hiện và trách nhiệm của từng chủ thể. Quan trọng hơn, việc hoàn thành các chỉ tiêu về quy mô và độ bao phủ phải đi đôi với nâng cao chất lượng sử dụng dịch vụ, bảo đảm những thành quả của Chiến lược được chuyển hóa thành cơ hội phát triển thực chất cho người dân và doanh nghiệp.

Đặc biệt, cần phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước trong xây dựng môi trường thể chế thuận lợi, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển hạ tầng thiết yếu và tạo điều kiện để các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ tài chính hoạt động an toàn, hiệu quả. Cơ quan quản lý không chỉ thực hiện chức năng ban hành quy định, mà còn phải nâng cao năng lực điều phối, nhận diện kịp thời những bất cập trong thực tiễn và thúc đẩy sự liên thông giữa các chính sách.

Đối với tài chính toàn diện hướng về nông thôn, vai trò phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính sách tài chính cần được kết nối với các chương trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và chuyển đổi số. Khi các mục tiêu được lồng ghép hợp lý, nguồn lực có điều kiện được sử dụng tập trung, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả thực hiện.

Chính quyền địa phương, với vai trò trực tiếp nắm bắt điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, cần chủ động xác định những địa bàn, nhóm đối tượng và lĩnh vực cần ưu tiên; phối hợp phát triển hạ tầng, phổ biến kiến thức tài chính và tạo điều kiện để các tổ chức cung ứng dịch vụ tiếp cận cộng đồng. Đồng thời, cần tăng cường theo dõi, đánh giá hiệu quả chính sách trên địa bàn, kịp thời phản ánh những khó khăn, bất cập phát sinh từ cơ sở.

Trong hệ thống tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong quản lý, điều hành và phối hợp triển khai các nhiệm vụ thuộc phạm vi chức năng, thẩm quyền; đồng thời, các tổ chức tín dụng và những chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính có trách nhiệm cụ thể hóa định hướng phát triển bao trùm thành sản phẩm, quy trình và phương thức phục vụ phù hợp.

Đối với các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, tổ chức tài chính vi mô, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các chủ thể liên quan, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới mô hình hoạt động, ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí hợp lý và mở rộng khả năng tiếp cận đối với các nhóm khách hàng còn gặp khó khăn. Quá trình đó phải gắn chặt với quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Cùng với vai trò của Nhà nước và hệ thống tài chính, sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức xã hội và chính người dân có ý nghĩa không thể thay thế. Doanh nghiệp cần nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực; hợp tác xã phát huy vai trò liên kết, hỗ trợ các thành viên tiếp cận thông tin và dịch vụ; người dân chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng tài chính và ý thức tuân thủ các nghĩa vụ trong quan hệ giao dịch.

Tài chính toàn diện chỉ có thể phát triển bền vững khi hình thành được mối quan hệ trách nhiệm hai chiều: tổ chức cung ứng có trách nhiệm cung cấp dịch vụ minh bạch, phù hợp, an toàn; người sử dụng có trách nhiệm lựa chọn, sử dụng dịch vụ đúng mục đích và nâng cao năng lực quản lý tài chính của mình.

Một yêu cầu có ý nghĩa quyết định khác là đổi mới phương thức theo dõi, giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện Chiến lược theo hướng coi trọng kết quả thực chất và tác động đối với người dân. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật trong quản lý, mà còn thể hiện sự chuyển biến trong tư duy quản trị phát triển: từ chú trọng mức độ hoàn thành nhiệm vụ sang đánh giá giá trị mà chính sách tạo ra cho xã hội.

Các chỉ tiêu về số lượng tài khoản, quy mô tín dụng, số điểm giao dịch hoặc số sản phẩm, dịch vụ được cung ứng vẫn có ý nghĩa quan trọng trong phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những chỉ tiêu đó, việc đánh giá có thể chưa phản ánh đầy đủ chất lượng sử dụng dịch vụ và những chuyển biến trong khả năng tiếp cận cơ hội phát triển.

Bởi vậy, bên cạnh các chỉ tiêu về quy mô và độ bao phủ, cần từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu và phương pháp đánh giá về mức độ sử dụng thực chất, chi phí tiếp cận, tính phù hợp của sản phẩm, khả năng bảo vệ người tiêu dùng và sự khác biệt giữa các nhóm dân cư, địa bàn. Đồng thời, cần nghiên cứu những phương pháp phù hợp để đánh giá tác động của tài chính toàn diện đối với sinh kế, năng lực sản xuất, kinh doanh và chất lượng cuộc sống, trên cơ sở dữ liệu khách quan, có thể kiểm chứng.

Chẳng hạn, sự gia tăng số lượng tài khoản chỉ phản ánh một khía cạnh của khả năng tiếp cận; điều cần quan tâm sâu hơn là người dân có sử dụng tài khoản thường xuyên, thuận tiện và an toàn hay không. Tương tự, quy mô tín dụng tăng trưởng là một chỉ báo về cung ứng vốn, nhưng hiệu quả phát triển còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng vốn, năng lực trả nợ và kết quả sản xuất, kinh doanh của khách hàng.

Đối với khu vực nông thôn, việc đánh giá cũng cần chú trọng mức độ thu hẹp khoảng cách tiếp cận giữa các địa bàn, nhóm dân cư; sự cải thiện trong khả năng sử dụng dịch vụ của những đối tượng ưu tiên và những thay đổi về điều kiện tiếp cận các nguồn lực phát triển. Đặc biệt, phải phân biệt rõ giữa kết quả trực tiếp của hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính với những tác động kinh tế - xã hội chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Thu nhập, năng suất hay mức sống của người dân không chỉ phụ thuộc vào tài chính, mà còn chịu tác động từ thị trường, hạ tầng, khoa học - công nghệ, giáo dục, điều kiện tự nhiên và các chính sách khác. Vì vậy, đánh giá tác động cần có phương pháp khoa học, tránh đồng nhất sự gia tăng dịch vụ tài chính với toàn bộ kết quả phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở đó, cơ chế kiểm tra, giám sát phải gắn với khả năng nhận diện sớm những vấn đề phát sinh, điều chỉnh kịp thời những giải pháp chưa phù hợp và nhân rộng các mô hình đã được thực tiễn chứng minh hiệu quả. Việc công khai, minh bạch thông tin theo quy định, tăng cường trách nhiệm giải trình và đề cao vai trò của người đứng đầu sẽ góp phần nâng cao kỷ luật thực thi, tạo sự thống nhất giữa mục tiêu chính sách với kết quả triển khai.

Suy cho cùng, thước đo quan trọng của một chiến lược vì người dân không chỉ là số lượng nhiệm vụ đã hoàn thành, mà còn là những cơ hội phát triển được mở ra, những rào cản được tháo gỡ và những thay đổi tích cực, bền vững trong đời sống. Đối với tài chính toàn diện, đó là khả năng để người dân nông thôn tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, chủ động hơn trước rủi ro và có thêm điều kiện phát triển sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Từ những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước đến từng chương trình hành động, từng sản phẩm, dịch vụ và từng giao dịch tài chính tại cơ sở, yêu cầu xuyên suốt là phải bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển với lợi ích thực chất của người dân. Khi trách nhiệm được xác định rõ, nguồn lực được tổ chức hiệu quả, những đổi mới được triển khai đồng bộ và kết quả được kiểm chứng bằng thực tiễn, tài chính toàn diện mới thực sự phát huy vai trò là một động lực quan trọng của phát triển nông thôn.

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 4

Bước vào giai đoạn phát triển mới, nông thôn Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn từ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Nhưng cơ hội chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi những tiềm năng được đánh thức, những rào cản được tháo gỡ và các nguồn lực được kết nối, phát huy hiệu quả. Trong tiến trình ấy, tài chính toàn diện giữ vai trò quan trọng trong mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy sức sản xuất và tạo nền tảng cho sự phát triển bao trùm, bền vững.

Từ sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những kết quả và bài học thực tiễn trong triển khai chính sách đến yêu cầu phát huy vai trò các chủ thể kinh tế và bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển, có thể thấy tài chính toàn diện không đơn thuần là mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ tài chính. Sâu xa hơn, đó là quá trình khơi thông những nguồn lực còn tiềm ẩn trong xã hội, tạo điều kiện để người dân làm chủ sinh kế, doanh nghiệp phát huy sức sáng tạo, các chủ thể kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh và những cộng đồng còn gặp khó khăn có thêm cơ hội vươn lên.

Tuy nhiên, từ chủ trương đúng đắn đến kết quả phát triển thực chất là một hành trình đòi hỏi quyết tâm chính trị, sự đồng bộ về thể chế và năng lực tổ chức thực hiện. Tài chính toàn diện không thể phát huy đầy đủ vai trò nếu thiếu sự kết nối với hạ tầng, khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường và năng lực sản xuất, kinh doanh. Bởi vậy, hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030 phải gắn với tháo gỡ những điểm nghẽn, đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và đề cao trách nhiệm của từng chủ thể trong tổ chức thực thi.

Trên hành trình hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sự thịnh vượng của nông thôn không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng, những vùng sản xuất hàng hóa hay những công trình hạ tầng hiện đại. Sự thịnh vượng ấy còn phải được thể hiện ở những mùa vụ hiệu quả hơn, những doanh nghiệp vươn xa hơn, những sinh kế bền vững hơn và những cơ hội phát triển ngày càng rộng mở cho mỗi người dân trên khắp các miền quê. Đó cũng là nơi giá trị của tài chính toàn diện được khẳng định bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống, chứ không chỉ bằng quy mô nguồn vốn hay số lượng dịch vụ được cung ứng.

Khơi thông nguồn lực để kiến tạo nông thôn thịnh vượng, xét đến cùng, là khơi dậy sức dân, phát huy nội lực và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi chủ thể. Khi những điểm nghẽn được tháo gỡ bằng quyết tâm và hành động, khi nguồn lực tài chính được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và khi thành quả tăng trưởng được lan tỏa đến từng cộng đồng, tài chính toàn diện sẽ góp phần đưa khát vọng thịnh vượng trở thành hiện thực, cùng đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

DANH MỤC NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Nhân dân - nguồn nghiên cứu, có dẫn Di chúc.

2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 13 (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011), trang 375.

3. Hồ Chí Minh, Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam.

4. Hồ Chí Minh, Di chúc

5. Quá trình phát triển tư duy về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa — tư liệu lý giải các bước chuyển về tư duy kinh tế.

6. Toàn văn Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 — văn kiện gốc về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

7. Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 — văn bản gốc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

8. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026–2030.

9. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Toàn văn do Báo điện tử Chính phủ đăng: https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

10. Báo điện tử Chính phủ: Phát triển kinh tế tư nhân: Hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Nguồn giới thiệu nhóm nhiệm vụ trong Nghị quyết 68: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-ho-tro-thuc-chat-hieu-qua-doanh-nghiep-nho-sieu-nho-va-ho-kinh-doanh-119250505145900942.htm

11. Báo điện tử Chính phủ: Nghị quyết 68-NQ/TW: Đa dạng hóa nguồn vốn cho kinh tế tư nhân. Nguồn giới thiệu định hướng tín dụng và bảo lãnh: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-68-nq-tw-da-dang-hoa-nguon-von-cho-kinh-te-tu-nhan-119250505140756505.htm

12. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Toàn văn do Báo Nhân Dân đăng ngày 6/2/2026: https://daihoidangtoanquoc.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post3297.html

13. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Toàn văn do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ giới thiệu: https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-102241224175800712.htm

14. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII: Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Toàn văn do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ giới thiệu: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-19-nq-tw-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-thon-119220626164012907.htm

15. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Văn kiện Đại hội

16.Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới”; Nghị quyết số 30-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”; Nghị quyết số 31-NQ/TW “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới”.

17. Báo cáo tình hình triển khai chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

18. Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam: Gỡ điểm nghẽn, mở rộng thị trường

19. Nguyên nhân nào khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn?

Phùng Thị Bình, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Agribank