Kết nối và khai thác giá trị trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Với quy mô giá trị sản xuất bình quân ngày càng tăng, công nghiệp văn hóa đang khẳng định vị thế một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc chỉ dừng lại ở các dự án đơn lẻ là chưa đủ.
Trải nghiệm số mở rộng giá trị công nghiệp văn hóa Đánh thức nguồn lực công nghiệp văn hóa cho tăng trưởng Không thể bứt phá công nghiệp văn hóa bằng tư duy và cách làm cũ
Kết nối và khai thác giá trị trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Hình minh họa được tạo bởi AI

Những chặng đường khó quên

Nhiều quốc gia xác định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực quan trọng và ưu tiên phát triển. Tại Việt Nam, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, sự phát triển của văn hóa gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển đất nước. Trong đó, doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đưa các giá trị văn hóa, tri thức và tài năng sáng tạo vào đời sống, hình thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và sức cạnh tranh quốc tế. Từ di sản, văn học, nghệ thuật đến ẩm thực, thời trang, thể thao và du lịch, mỗi lĩnh vực đều có thể mở ra những hướng sáng tạo mới khi được kết nối với công nghệ, năng lực tổ chức sản xuất và thị trường.

Thực tế, theo thống kê gần nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022 ước bình quân đạt gần 1,06 triệu tỉ đồng (tương đương khoảng 44 tỉ USD). Trong 5 năm, số lượng cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành này tăng bình quân 7,2%/năm; năm 2022 có 70.321 cơ sở đang hoạt động liên quan công nghiệp văn hóa. Lực lượng lao động tăng khá nhanh, bình quân 7,4%/năm.

Kết quả này càng có ý nghĩa khi nhìn lại giai đoạn sơ khai đầy khó khăn, thách thức. Ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch Sáng lập DatVietVAC Group Holdings (DatVietVAC) cho biết, giai đoạn từ 1986 đến nay có thể khái quát bằng ba từ khóa: “Hình thành - Thử nghiệm - Tích lũy”. Đây là quãng thời gian công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển trong điều kiện chưa có khung chính sách đầy đủ, chưa có thị trường đúng nghĩa và chưa được vận hành theo tư duy công nghiệp. Phần lớn hoạt động sáng tạo khi đó mang tính tự thân, dựa vào đam mê, sự linh hoạt và khả năng thích nghi của doanh nghiệp và người làm nghề, hơn là một hệ sinh thái được thiết trí bài bản. Giá trị lớn nhất của giai đoạn này không nằm ở quy mô vốn hóa hay khả năng xuất khẩu, mà ở nguồn nhân lực sáng tạo, kinh nghiệm thực tiễn và niềm tin rằng văn hóa hoàn toàn có thể trở thành một ngành kinh tế. Đó là quá trình tích lũy thầm lặng nhưng mang tính nền móng, tạo tiền đề cho bước chuyển mình mang tính chiến lược sau này.

Từ năm 2024 trở đi, đặc biệt sau khi Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được phê duyệt, công nghiệp văn hóa Việt Nam bước sang giai đoạn mới, có thể gọi là: “Định vị - Chuẩn hóa - Toàn cầu”. Văn hóa lần đầu tiên được định vị rõ ràng như một ngành kinh tế chiến lược, gắn với mục tiêu tăng trưởng, vốn hóa và xuất khẩu. Quá trình chuẩn hóa diễn ra đồng thời ở nhiều cấp độ, từ chính sách, môi trường pháp lý, mô hình vận hành doanh nghiệp, đến tiêu chuẩn sản xuất – phân phối nội dung và đo lường giá trị tài sản trí tuệ (IP). Công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo tạo điều kiện để chuỗi giá trị nội dung được mở rộng trên quy mô chưa từng có.

Theo thống kê gần nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022 ước bình quân đạt gần 1,06 triệu tỉ đồng (tương đương khoảng 44 tỉ USD). Trong 5 năm, số lượng cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành này tăng bình quân 7,2%/năm; năm 2022 có 70.321 cơ sở đang hoạt động liên quan công nghiệp văn hóa. Lực lượng lao động tăng khá nhanh, bình quân 7,4%/năm. Ngay tại DatVietVAC, Ông Đinh Bá Thành cho biết, doanh thu năm 2025 của doanh nghiệp đạt 3.196 tỷ với ROE lên đến hơn 40%. Trong 6 năm gần đây, DatVietVAC đã chi trả khoảng 1.000 tỷ đồng cổ tức, tương đương gần toàn bộ vốn chủ sở hữu hiện tại, trong khi lợi nhuận vẫn duy trì tăng trưởng.

Quản lý, kết nối và khai thác giá trị

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa phụ thuộc vào tốc độ hoàn thiện thể chế. Để kết quả trên được nhân rộng trong thời gian tới, cơ chế chính sách đang được xây dựng với nhiều giải pháp đột phá nhằm khai thác hết tiềm năng từ hệ sinh thái của công nghiệp văn hóa. Trong đó, Dự thảo luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và đang lấy ý kiến rộng rãi. Đáng chú ý, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa là một trong những mục nội dung nổi bật nhất nằm trong Dự thảo. Theo đó, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa dự kiến được tổ chức theo một trong các loại hình sau: sàn giao dịch sản phẩm công nghiệp văn hóa; sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và quyền khai thác tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; sàn giao dịch tổng hợp thực hiện từ hai loại hình trên trở lên. Trong đó, sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa sẽ là sàn giao dịch chuyên biệt thực hiện các hoạt động niêm yết, môi giới, chuyển giao, cấp phép khai thác, đấu giá, mua bán cùng các dịch vụ hỗ trợ liên quan theo quy định.

Dự thảo cũng quy định các tài sản và quyền sở hữu trí tuệ khi đưa lên giao dịch phải đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý; trường hợp tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc đang có tranh chấp thì giao dịch phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật liên quan. Dự thảo quy định rõ hoạt động của sàn giao dịch công nghiệp văn hóa phải bảo đảm các nguyên tắc tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại, giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu, cạnh tranh và các quy định liên quan. Việc vận hành sàn phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia. Đồng thời, các sàn phải xác thực thông tin chủ thể tham gia giao dịch, truy xuất nguồn gốc giao dịch, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.

Về tổng thể dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đặng Xuân Phương cho biết, luật được kỳ vọng hoàn thiện hành lang pháp lý, khắc phục những khoảng trống, điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và gia tăng hàm lượng văn hóa trong sản phẩm, dịch vụ; đồng thời, góp phần bảo vệ thị trường nội địa, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới.

Tuy vậy, theo Luật sư Phan Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP.Hồ Chí Minh, điều còn thiếu không phải là hành lang pháp lý mà là hạ tầng để quản lý, kết nối và khai thác giá trị của các tài sản sáng tạo. Việt Nam cần phát triển hạ tầng dữ liệu, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào các nền tảng xuyên biên giới.

Cùng chung nhận định này, PGS.TS Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Nghiên cứu sáng tạo (Trường đại học Ngoại thương Hà Nội) cho biết, đối với bất kỳ lĩnh vực nào trong nền kinh tế, chúng ta đều cần đưa ra các quyết định chính sách. Cơ sở để đưa ra chính sách chính là nguồn thông tin đầu vào nhưng hiện nay dữ liệu về công nghiệp văn hóa phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính đồng bộ, khó kết nối, so sánh; hệ thống phân loại, phương pháp thống kê và cơ chế chia sẻ dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý. Chính vì vậy, việc xây dựng bộ tiêu chí để “đo lường” các ngành công nghiệp văn hóa là vấn đề cấp thiết.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, chủ trương dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho văn hóa từ năm 2026 được kỳ vọng tạo thêm điều kiện huy động nguồn lực. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh xác định, mô hình “1+1+N” trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng nền tảng và tháo gỡ rào cản phát triển. Doanh nghiệp dẫn dắt bằng nguồn lực, công nghệ, năng lực quản trị và kinh nghiệm thị trường. Cộng đồng sáng tạo, gồm nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà khoa học và người dân, đóng góp tri thức, tài năng, bản sắc và cùng thụ hưởng thành quả. Cách tiếp cận này hướng tới thay đổi phương thức phát triển công nghiệp văn hóa, từ triển khai những dự án riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái có sự tham gia của nhiều chủ thể.

Thước đo thành công là sản phẩm có người dùng, tác phẩm có công chúng, thương hiệu có thị trường, người sáng tạo có thu nhập và cộng đồng sở hữu di sản được hưởng lợi. Mục tiêu cuối cùng là chuyển những giá trị văn hóa Việt Nam thành sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh, đồng thời tạo thêm việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển cho cộng đồng sáng tạo, Bộ trưởng Thanh nêu quan điểm, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh khẳng định.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/ket-noi-va-khai-thac-gia-tri-trong-he-sinh-thai-cong-nghiep-van-hoa-188946.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.