09:02 | 14/09/2017

Điều chỉnh mức thuế BVMT với xăng là chưa thuyết phục

Tại phiên họp UBTVQH chiều 13/9, Chính phủ đã trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT), trong đó đề nghị điều chỉnh tăng khung thuế BVMT đối với xăng từ 1.000-4.000 đồng/lít lên từ 3.000-8.000 đồng/lít. Tuy nhiên, các ý kiến cho rằng, căn cứ để điều chỉnh mức thuế BVMT xăng là chưa thuyết phục…

Giá xăng tiếp tục tăng 306 đồng/lít từ 15h hôm nay (5/9)
Đến hết quý 2/2017, Quỹ Bình ổn giá xăng dư gần 4 nghìn tỷ đồng

Tờ trình của Chính phủ lý giải về việc điều chỉnh này là, mức thuế BVMT đối với xăng dầu đã bằng mức tối đa trong khung thuế hoặc gần bằng mức tối đa trong khung thuế.

Chưa có đánh giá tác động trong trường hợp điều chỉnh lên mức trần đối với xăng, dầu

Theo đó, trường hợp cần thiết phải điều chỉnh mức thuế BVMT đối với xăng dầu để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ là khó có thể thực hiện được, đặc biệt trong điều kiện phải cắt giảm dần thuế nhập khẩu đối với xăng dầu theo cam kết quốc tế và giá dầu trên thị trường thế giới biến động bất thường, khó lường.

Trên cơ sở tính toán các yếu tố như: việc thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (hiện nay, Việt Nam đã và đang tham gia 11 Hiệp định thương mại tự do); chủ động ứng phó khi giá dầu thế giới có biến động bất thường, khó lường; xăng dầu là sản phẩm khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường; tỷ lệ thuế, gồm: thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế BVMT, thuế GTGT trên giá cơ sở của Việt Nam đang ở mức thấp so với nhiều nước.

Theo đó, tại dự thảo luật đề nghị điều chỉnh khung thuế BVMT đối với xăng dầu như sau: mức thuế tối thiểu điều chỉnh tăng bằng mức thuế cụ thể đang áp dụng; mức thuế tối đa điều chỉnh tăng bằng 2 lần mức thuế tối đa trong khung thuế hiện hành (trong đó xăng điều chỉnh từ 1.000-4.000 đồng/lít lên từ 3.000-8.000 đồng/lít). Riêng đối với dầu hỏa, đề nghị giữ khung thuế BVMT như hiện hành (300-2.000 đồng/lít) vì dầu hỏa là mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đa số người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.

Về hiệu lực thi hành, để phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng; đảm bảo thực hiện mục tiêu và giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, Chính phủ đề nghị trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua dự án luật tại 01 (một) kỳ họp (kỳ họp thứ 4, tháng 10/2017). Theo đó, đề nghị hiệu lực thi hành của dự án luật từ ngày 1/7/2018.

Thẩm tra dự án luật này, Uỷ ban Tài chính Ngân sách (TCNS) cho rằng, việc so sánh về tỷ lệ thuế trên giá cơ sở của Việt Nam với một số nước đang ở mức thấp (mức 37,49% đối với xăng, chưa cộng với mức trích quỹ bình ổn giá) như Tờ trình của Chính phủ để làm căn cứ điều chỉnh mức thuế BVMT là chưa phù hợp với thực tế thu nhập của người dân Việt Nam (thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới), dẫn đến chi phí cho xăng, dầu so với thu nhập của người dân Việt Nam chiếm tỷ trọng rất cao.

Bên cạnh đó, Tờ trình của Chính phủ chưa làm rõ lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với xăng, dầu và số giảm thu NSNN từ xăng, dầu theo lộ trình cắt giảm này; chưa có đánh giá tác động trong trường hợp điều chỉnh lên mức trần đối với xăng, dầu sẽ góp phần tăng thu NSNN bao nhiêu, tác động như thế nào đến sản xuất trong nước và đời sống của người dân, cũng như tăng trưởng kinh tế; chưa làm rõ cơ sở khoa học về mặt định lượng, các số liệu phân tích, chứng minh việc nâng mức trần khung đối với xăng, dầu trong khung thuế hiện hành, mà đề xuất cơ sở tăng thuế theo định tính là chưa thực sự thuyết phục.

Người đứng đầu Ủy ban này cũng cho rằng, xăng, dầu là mặt hàng thiết yếu cho toàn xã hội, là đầu vào của hầu hết các ngành, lĩnh vực sản xuất, đời sống của người dân và mức thuế cụ thể đối với xăng, dầu hiện nay vẫn chưa điều chỉnh tăng đến mức trần đã được quy định tại luật hiện hành. Trong khi thông điệp của Chính phủ là tạo điều kiện, tăng tính cạnh tranh và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng lại đề nghị điều chỉnh chính sách thuế một cách đột ngột như Dự thảo Tờ trình là chưa thực sự phù hợp.

Ngoài ra, theo đánh giá của một số chuyên gia, đốt than gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng vượt bậc so với đốt xăng dầu. Tuy nhiên, so sánh giữa tác động môi trường của xăng dầu và than đá với khung mức thuế BVMT đối với các nhiên liệu này, thì Luật Thuế BVMT hiện hành và Dự thảo sửa đổi Luật đã và đang tạo ra sự chênh lệch lớn rất không hợp lý, có thể là nguyên nhân khiến cho đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nặng sử dụng rộng rãi than đá, có nguy cơ ô nhiễm cao như sản xuất điện năng (nhà máy nhiệt điện than), công nghiệp luyện thép, xi măng, hóa chất... tăng cao trong thời gian qua.

Do vậy, đề nghị nghiên cứu tăng trần thuế suất đối với than lên mức tương ứng với tỷ lệ tăng đối với xăng dầu và phù hợp với mức độ gây ô nhiễm môi trường do than gây ra.

Về hiệu lực thi hành của dự án Luật, Uỷ ban TCNS đề nghị cần thiết phải được Quốc hội xem xét, thông qua tại hai kỳ họp, theo đó đề nghị thời điểm luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 thay vì từ ngày 1/7/2018 như đề nghị của Chính phủ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.670 22.740 27.704 28.035 31.071 31.570 205,89 209,83
BIDV 22.670 22.740 27.709 27.830 31.091 31.555 206,67 209,76
VietinBank 22.658 22.738 27.649 28.055 31.034 31.594 206,45 209,93
Agribank 22.655 22.730 27.685 28.013 31.098 31.528 20658 20981
Eximbank 22.650 22.740 27.683 28.044 31.176 31.583 207,20 20990
ACB 22.665 22.735 27.701 28.049 31.276 31.589 207,31 209,91
Sacombank 22.660 22.755 27.737 28.100 31.260 31.619 207,25 210,36
Techcombank 22.660 22.750 27.372 28.251 30.828 31.719 205,80 211,31
LienVietPostBank 22.620 22.745 27.633 28.096 31.221 31.636 206,75 210,40
DongA Bank 22.670 22.740 27.710 28.020 31.210 31.560 207,10 209,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.090
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.070
Vàng SJC 5c
36.850
36.090
Vàng nhẫn 9999
36.660
37.060
Vàng nữ trang 9999
36.310
37.010