Dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới (Kỳ 2)

Chuyển đổi xanh chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới khi có sự đồng bộ giữa thể chế, công nghệ, doanh nghiệp và nguồn lực tài chính, trong đó vai trò lãnh đạo, kiến tạo và tổ chức thực hiện của Đảng là yếu tố quyết định để khơi thông các nguồn lực, đưa mục tiêu phát triển bền vững vào thực tiễn.
Dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới (Kỳ 1) Tài chính xanh: Kết nối nguồn vốn với cơ hội đầu tư bền vững Logistics xanh: Giảm chi phí vận tải, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt

KỲ 2: KHƠI THÔNG MẠCH NGUỒN CHUYỂN ĐỔI XANH - ĐÒN BẨY THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG MỚI

Chuyển đổi xanh không thể đi xa chỉ bằng những mô hình tiên phong hay một vài chính sách ưu đãi. Muốn biến yêu cầu phát triển bền vững thành sức bật kinh tế, Việt Nam cần một phương thức tổ chức thực hiện mới, trong đó thể chế đi trước mở đường, khoa học - công nghệ tạo năng suất, doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể và nguồn lực được phân bổ theo những giá trị dài hạn. Đây không chỉ là bài toán quản lý kinh tế, mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, kiến tạo và hiện thực hóa quyết sách của Đảng trong thực tiễn.

Ngày 29/6/2026, Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức khai trương tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Lần đầu tiên, việc mua bán hạn ngạch phát thải được tổ chức trên một hệ thống giao dịch tập trung, đánh dấu bước tiến trong quá trình xây dựng các công cụ thị trường để thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính. Theo thông tin từ Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố tháng 9/2026, sau hơn hai tháng vận hành, thị trường ghi nhận 7 giao dịch với 1.310 hạn ngạch phát thải được chuyển nhượng. Hàng hóa giao dịch ở giai đoạn đầu chủ yếu là hạn ngạch phân bổ cho 110 cơ sở thuộc ba lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng.

Dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới (Kỳ 2)
Khai trương sàn giao dịch carbon trong nước - "mảnh ghép" chiến lược của hệ sinh thái tài chính xanh (Nguồn ảnh: BIDV)

Việc hình thành thị trường carbon trong nước còn đang ở giai đoạn đầu của hành trình phát triển. Cùng với đó, nhiều lĩnh vực mới từ phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đã và đang có những bước tiến mới, cho thấy sự vận động từ chủ trương, Nghị quyết đến thực tiễn trong bức tranh kinh tế.

Tuy nhiên, từ những kết quả bước đầu cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn: Có khuôn khổ pháp lý và hạ tầng giao dịch mới là điều kiện khởi đầu; để thúc đẩy công cuộc chuyển đổi, cần phải có một hệ thống đồng bộ từ cơ chế chính sách, quản trị vận hành, cơ sở hạ tầng, tiêu chuẩn thống nhất, dữ liệu xác thực, năng lực thực thi, nguồn lực phân bổ. Đó là nỗ lực tổng thể của một chiến lược quốc gia và quyết tâm, trách nhiệm của toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn thể lực lượng của nền kinh tế.

“Thể chế xanh là nền tảng quyết định, công nghệ xanh là động lực đột phá, và nguồn nhân lực xanh có vai trò then chốt”
(Trích phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị thượng đỉnh P4G Việt Nam, tháng 4/2025).

Để thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh

Vai trò lãnh đạo của Đảng trong chuyển đổi xanh trước hết thể hiện ở năng lực định hướng phát triển, nhận diện đúng những biến đổi của thời đại và kiến tạo điều kiện để toàn xã hội chuyển hóa định hướng đó thành hành động.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong tổng thể nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng mới. Cùng với đó, các chủ trương chiến lược về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và bảo đảm an ninh năng lượng tạo nên những nền tảng chính sách liên quan mật thiết đến chuyển đổi xanh.

Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở việc xác định đúng mục tiêu, mà còn ở khả năng chuyển mục tiêu thành những tín hiệu rõ ràng, ổn định để doanh nghiệp và nhà đầu tư có cơ sở xây dựng kế hoạch dài hạn. Hạ tầng năng lượng là một ví dụ điển hình. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, được phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xác định tổng vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện truyền tải giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 136,3 tỉ USD, trong đó lưới truyền tải khoảng 18,1 tỉ USD. Quy mô vốn lớn đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ giữa nguồn điện và hạ tầng truyền tải, bảo đảm khả năng hấp thụ công suất và nâng cao hiệu quả đầu tư. Sự đồng bộ này có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư, khơi thông dòng vốn xanh và tạo nền tảng cho quá trình chuyển dịch năng lượng bền vững.

Cùng với đó, doanh nghiệp muốn đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, cần có khả năng tính toán được lợi ích trong suốt vòng đời dự án. Để khu công nghiệp thu hút nhà đầu tư yêu cầu cao về môi trường, cần có hạ tầng năng lượng, nước, xử lý chất thải và tiêu chuẩn đo lường phù hợp. Để phát triển thị trường sản phẩm tuần hoàn, phải từng bước giải quyết những nút thắt về tiêu chuẩn nguyên liệu tái sinh, thu gom, phân loại và tiêu thụ.

Vì thế, hoàn thiện thể chế không chỉ dừng ở việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật, mà quan trọng hơn là kiến tạo môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo, qua đó củng cố niềm tin và tạo cơ sở cho doanh nghiệp hoạch định đầu tư dài hạn. Định hướng chính sách cần được cụ thể hóa trong quy hoạch, gắn với cơ chế thực thi phù hợp để từng bước hình thành các dự án khả thi, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội.

Chuyển đổi số thúc đẩy chuyển đổi xanh

Nếu thể chế là điều kiện mở đường, thì khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo nên sức mạnh trực tiếp của chuyển đổi xanh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%, và bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Một nền kinh tế không thể giảm đáng kể cường độ sử dụng năng lượng và tài nguyên chỉ bằng những khẩu hiệu tiết kiệm. Chuyển đổi phải diễn ra ở công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu và cách thức tổ chức các chuỗi giá trị. Một dây chuyền sản xuất mới có thể đồng thời làm giảm tỉ lệ nguyên liệu hao hụt, nâng chất lượng sản phẩm, tiết kiệm điện năng và cắt giảm phát thải. Trong các công trình xây dựng, hệ thống điều hòa, chiếu sáng và quản lý năng lượng thông minh có thể giảm đáng kể chi phí vận hành. Với nông nghiệp, công nghệ quản lý nước tưới, theo dõi môi trường và truy xuất nguồn gốc vừa phục vụ sản xuất bền vững, vừa nâng khả năng tiếp cận thị trường.

Đó là lý do chuyển đổi xanh cần gắn trực tiếp với chương trình quốc gia về nâng năng suất, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp. Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, trong nhiều trường hợp, không phải hai quá trình tách biệt. Dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp nhận diện khâu tiêu hao năng lượng, dự báo nhu cầu vật tư, tối ưu vận tải, quản lý chất thải và chứng minh mức giảm phát thải. Khi được ứng dụng đúng cách, công nghệ số có thể trở thành công cụ nâng cao hiệu quả thực chất của quá trình chuyển đổi.

Tuy nhiên, chuyển đổi công nghệ cũng không thể chỉ được thực hiện ở từng doanh nghiệp riêng lẻ. Tại các khu công nghiệp, hiệu quả lớn hơn có thể đến từ hệ thống hạ tầng dùng chung, kết nối năng lượng và nước, sử dụng phụ phẩm giữa các nhà máy và dịch vụ kỹ thuật tập trung. Trong nông nghiệp, lợi ích sẽ được nhân lên khi áp dụng đồng bộ công nghệ, tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng và liên kết tiêu thụ. Đối với các ngành phát thải lớn như thép, xi măng, hóa chất, yêu cầu đổi mới công nghệ càng phức tạp vì gắn với chu kỳ đầu tư dài, chi phí vốn lớn và những công nghệ giảm phát thải sâu vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.

Việt Nam, cần nghiên cứu các chương trình chuyển đổi theo ngành có trọng tâm, xác định rõ công nghệ ưu tiên, tiêu chí hiệu quả, nhu cầu hạ tầng, nguồn lực thực hiện và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước. Đầu tư công nghệ không chỉ nhằm đạt một tiêu chuẩn môi trường, mà phải đồng thời nâng cao năng lực sản xuất và mức độ tự chủ của nền kinh tế.

Chuyển đổi xanh chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi mỗi bước giảm tiêu hao tài nguyên cũng đồng thời mở ra một bước tiến về năng suất và năng lực cạnh tranh.

Kiến tạo hệ sinh thái doanh nghiệp chuyển đổi

Phát triển hệ sinh thái các doanh nghiệp cùng vào cuộc tạo nên chuỗi cung ứng tuần hoàn, thúc đẩy chuyển đổi xanh đa ngành, đa lĩnh vực. Mục tiêu giảm phát thải ở cấp quốc gia phải được cụ thể hóa thành những chuyển đổi thực chất tại các cơ sở sản xuất: Thay đổi nguyên liệu, cải tiến dây chuyền, tiết kiệm năng lượng, tổ chức lại vận tải, tái sử dụng phụ phẩm hoặc phát triển sản phẩm mới.

Đối với những doanh nghiệp lớn và các tập đoàn đầu chuỗi, chuyển đổi xanh cần được tích hợp vào chiến lược đầu tư, quản trị công nghệ, quản lý chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp. Với lợi thế về quy mô, thị trường và nguồn lực, khu vực này có khả năng tạo sức lan tỏa tới nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, rào cản lại thường nằm ở chi phí, nhân lực, công cụ/cách thức đo lường, khả năng tiếp cận giải pháp kỹ thuật. Vì vậy, cần có một “gói thực thi” đồng bộ nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi xanh theo từng cấp độ, từng giai đoạn cụ thể để thích ứng với chuyển biến của mô hình tăng trưởng mới.

Để hỗ trợ doanh nghiệp tăng tốc chuyển đổi, các chính sách khuyến khích phải được thiết kế theo khả năng hấp thụ thực tế. Nhà nước và doanh nghiệp cùng đồng hành trong công cuộc chuyển đổi thông cơ chế ưu đãi phù hợp. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện những khâu lãng phí năng lượng, áp dụng giải pháp công nghệ vừa sức và tiếp cận được khách hàng yêu cầu tiêu chuẩn cao sẽ tạo tác động thiết thực hơn những chương trình đầu tư lớn. Đồng thời, cần kiến tạo liên kết ngành, liên kết vùng trong hệ sinh thái các sản phẩm của nền kinh tế chuyển đổi xanh.

Cộng đồng các ngành và các doanh nghiệp cũng cần đồng hành và chia sẻ trong chuỗi chuyển đổi, tăng cường năng lực hấp thụ và hỗ trợ công nghệ chuyển đổi tiên tiến. Một ngành hàng có thể xây dựng lộ trình giảm phát thải thống nhất, hệ thống dữ liệu dùng chung, chương trình hỗ trợ công nghệ và cơ chế kết nối thị trường. Một khu công nghiệp có thể đồng thời phát triển hạ tầng năng lượng, xử lý chất thải và dịch vụ đo lường. Một vùng nguyên liệu có thể gắn quy trình bền vững với chế biến, truy xuất nguồn gốc. Nhờ đó, chi phí chuyển đổi không còn hoàn toàn đặt lên vai từng doanh nghiệp, trong khi lợi ích có thể được mở rộng tới cả chuỗi.

Đặc biệt, cần chú trọng vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp có vốn Nhà nước trong những lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và tài chính có tác động lan tỏa lớn. Vai trò đó không chỉ được thể hiện bằng quy mô đầu tư, mà còn ở năng lực xây dựng chuẩn mực, phát triển thị trường và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng tham gia. Đây cũng là yêu cầu gắn việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân với nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng.

Dòng vốn xanh “đúng, đủ, an toàn” trong chuỗi chuyển đổi

Phát triển tài chính xanh cần được đặt trong hệ sinh thái chuyển đổi, kết hợp vốn với tư vấn công nghệ, hỗ trợ xây dựng dự án, hoàn thiện dữ liệu và phát triển thị trường. Cùng với thu hút nguồn tài chính phục vụ công cuộc chuyển đổi, cần đẩy mạnh những giải pháp tổng thể để tăng cường khả năng hấp thụ vốn và mang đến những tác động thực chất trong chuỗi chuyển đổi.

Thêm nguồn vốn chưa đồng nghĩa với việc có thêm chuyển đổi. Cần chuyển trọng tâm từ "bao nhiêu vốn xanh" sang "vốn xanh đạt chuẩn nào", với ba tiêu chuẩn. “Đúng” - đúng đối tượng thụ hưởng và đúng dự án đạt chuẩn xanh: Ưu đãi phải đến với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh như Nghị quyết 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân xác định, thay vì những chủ thể đã đủ sức tự vay; đồng thời cần có cơ chế tài chính chuyển đổi để doanh nghiệp ngành "nâu" có lộ trình giảm phát thải đáng tin cậy được tiếp cận vốn mà không làm loãng tiêu chuẩn xanh. “Đủ” - đủ quy mô, đủ kỳ hạn và đủ an toàn trước rủi ro tỉ giá, bằng việc phát triển trái phiếu xanh, nhà đầu tư tổ chức, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh tín dụng và công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá cho vốn ngoại tệ. “An toàn” - đồng vốn đi ra phải quay về: Tín dụng xanh trước hết vẫn là tín dụng; một dự án tốt cho môi trường nhưng không trả được nợ sẽ sinh ra nợ xấu và làm xói mòn niềm tin vào chính chủ trương xanh.

Dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới (Kỳ II)
Ba tiêu chuẩn của dòng vốn xanh, chuyển từ số lượng sang chất lượng đạt chuẩn của dòng vốn

Về thể chế, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã tạo nền tảng xác định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh. Tiếp đó, Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị đã hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG đối với các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh.

Những bước tiến ấy góp phần xây dựng cơ sở để nhận diện hoạt động được khuyến khích và hạn chế nguy cơ "tẩy xanh". Tuy nhiên, với những ngành có mức phát thải lớn, yêu cầu tiếp theo là xây dựng các cơ chế tài chính chuyển đổi phù hợp, để doanh nghiệp có lộ trình giảm phát thải đáng tin cậy có thể tiếp cận vốn mà không làm loãng tiêu chuẩn xanh.

Trong chuỗi chuyển đổi này, hệ thống ngân hàng có thể làm nhiều hơn vai trò cung ứng tín dụng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò tiên phong của các ngân hàng có vốn Nhà nước trong việc dám đi vào những vùng “khó” đó là những vùng “nâu” của nền kinh tế, còn nhiều khó khăn trong chuyển đổi, thích ứng với bối cảnh kinh tế mới. Ngành tài chính cần tăng cường khả năng kết nối nguồn vốn trong nước và quốc tế, tham gia xây dựng tiêu chuẩn thẩm định, tư vấn cấu trúc tài chính, quản trị rủi ro và đồng hành cùng doanh nghiệp trong những dự án có thời gian hoàn vốn dài.

Tuy nhiên, để phát huy vai trò ấy, ngành tài chính cũng phải đổi mới. Từ việc đánh giá chủ yếu tài sản bảo đảm và dòng tiền truyền thống, cần từng bước nâng cao khả năng phân tích rủi ro môi trường - xã hội, rủi ro khí hậu và tác động của công nghệ, chính sách carbon tới năng lực trả nợ của doanh nghiệp. Đồng thời, cần phát triển thị trường trái phiếu xanh, quỹ đầu tư, công cụ bảo lãnh, tài chính hỗn hợp và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp. Đây là điều kiện để huy động nguồn lực dài hạn mà không đặt toàn bộ gánh nặng lên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại.

Từ thực tiễn tại Đảng ủy BIDV, có thể nhìn thấy một chuỗi chuyển hóa đáng chú ý từ chủ trương của Đảng đến hoạt động kinh doanh. Ngày 03/10/2023, Đảng ủy BIDV ban hành Nghị quyết số 27-NQ/ĐU về triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, đặt yêu cầu đưa mục tiêu phát triển xanh vào chiến lược, kế hoạch và hoạt động ngân hàng. Đảng ủy BIDV cũng xác định định hướng xây dựng hệ thống BIDV trở thành định chế tài chính trụ cột quốc gia, là ngân hàng LỚN - MẠNH - XANH hàng đầu khu vực và vươn tầm châu Á theo Nghị quyết Đại hội XV và Nghị quyết số 48-NQ/ĐU của Ban Chấp hành Đảng bộ BIDV về Chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

“Xanh” là mục tiêu phát triển BIDV đến năm 2030, tầm nhìn 2045

“Xanh” là mục tiêu phát triển BIDV đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Từ định hướng ấy, BIDV xây dựng và phát triển các khung tài chính bền vững, sản phẩm tín dụng, trái phiếu và những chương trình hợp tác với các định chế quốc tế. Theo Báo cáo Phát triển bền vững năm 2025, dư nợ tín dụng xanh cuối năm của BIDV đạt 82.332 tỉ đồng, tài trợ cho 2.502 dự án, phương án của 1.789 khách hàng. Đặc biệt, cơ cấu tín dụng xanh cho thấy dư nợ tập trung lớn vào năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, chiếm 72,7% danh mục. Đây vừa là kết quả đáng ghi nhận, vừa gợi mở yêu cầu để các ngân hàng có vốn Nhà nước như BIDV cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng năng lực phục vụ các lĩnh vực còn nhiều dư địa chuyển đổi như công nghiệp chế biến, xây dựng, giao thông, nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn.

Từ "đo đầu vào" đến "đo kết quả": Phép thử của năng lực tổ chức thực hiện

Công cuộc chuyển đổi xanh sẽ khó đạt hiệu quả thực chất nếu toàn bộ hệ thống tiếp tục đánh giá thành công chủ yếu bằng số chương trình được phê duyệt, quy mô vốn huy động hay số dự án mang nhãn xanh. Những thước đo ấy cần thiết, nhưng mới phản ánh đầu vào và một phần quá trình triển khai. Điều quan trọng hơn là sau mỗi chương trình, mỗi khoản đầu tư và mỗi chính sách, năng suất đã thay đổi như thế nào, lượng tài nguyên được tiết kiệm bao nhiêu, doanh nghiệp có nâng được sức cạnh tranh hay không, những thị trường và việc làm mới đã hình thành đến đâu. Đây là yêu cầu phù hợp với tinh thần đổi mới mô hình tăng trưởng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập: Chuyển trọng tâm sang chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.

Từ góc độ tổ chức thực hiện Nghị quyết, cần từng bước hình thành những chỉ tiêu đánh giá kết quả của chuyển đổi xanh trong từng ngành, từng địa phương và doanh nghiệp. Đối với công nghiệp, đó là mức giảm tiêu hao năng lượng và nguyên liệu trên đơn vị sản phẩm, tỉ lệ đổi mới công nghệ, giá trị gia tăng hoặc khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Với nông nghiệp, cần đo hiệu quả sử dụng nước, vật tư, lợi nhuận và thu nhập của người sản xuất. Đối với khu công nghiệp sinh thái, cần quan tâm mức tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả cộng sinh công nghiệp và số doanh nghiệp được hưởng lợi. Những chỉ số đó phải gắn với điều kiện của từng ngành và được đo lường cụ thể, tránh biến yêu cầu đánh giá thành một hệ thống báo cáo hình thức mới.

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng. Chuyển đổi xanh không thể chỉ được truyền đạt như những mục tiêu môi trường hay trách nhiệm tuân thủ. Mỗi cán bộ, đảng viên, người dân cần hiểu được những lợi ích cụ thể gắn với công việc, sản xuất, thu nhập và tương lai phát triển, góp phần tạo đồng thuận trên cơ sở những lợi ích thiết thực. Đặc biệt, vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng trong cơ quan quản lý, doanh nghiệp nhà nước và các định chế tài chính cần được thể hiện bằng năng lực lãnh đạo triển khai những mục tiêu cụ thể. Từ nghị quyết đến kế hoạch, từ kế hoạch đến phân bổ nguồn lực, từ nguồn lực đến sản phẩm và kết quả, mỗi khâu phải có trách nhiệm rõ ràng, được theo dõi và đánh giá thường xuyên. Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát cần gắn với kiểm soát lãng phí, phòng ngừa lợi ích nhóm, bảo đảm tính minh bạch của các chương trình ưu đãi và ngăn chặn hiện tượng "tẩy xanh".

Để chuyển đổi xanh trở thành sức mạnh tăng trưởng

Để chuyển đổi xanh thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức tài chính. Quá trình này không chỉ đòi hỏi thay đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường mà còn cần hoàn thiện thể chế, huy động hiệu quả các nguồn lực và tạo lập những điều kiện cần thiết để chuyển đổi xanh gắn với phát triển kinh tế bền vững. Trên cơ sở đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò của Nhà nước trong việc thực thi chiến lược quốc gia về chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế bền vững

Từ chủ trương, đường lối dẫn dắt của Đảng, Nhà nước cần phát huy vai trò trung tâm của công cuộc chuyển đổi kép, bảo đảm định hướng chiến lược, cơ chế pháp lý và phân bổ, huy động nguồn lực toàn xã hội phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi. Theo đó, Chính phủ cần xây dựng hệ thống trụ cột chuyển đổi xanh mang tính nền tảng, vừa tham khảo kinh nghiệm quốc tế, vừa gắn với điều kiện thực tiễn của nền kinh tế trong nước. Đối với các Nghị quyết chiến lược đã ban hành, trong đó xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên, cơ chế phối hợp liên ngành, lộ trình và nguồn lực thực hiện, tăng hiệu quả phối hợp trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về chuyển đổi xanh quốc gia và các Nghị quyết chiến lược, đánh giá kết quả triển khai Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và các Nghị quyết của Chính phủ về tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn đến năm 2045, khả năng đạt được mục tiêu về Net-Zero vào năm 2050 để có chính sách điều chỉnh phù hợp nhằm đạt mục tiêu vào năm 2050.

Đối với Quốc hội, trong quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, có thể tiếp tục nghiên cứu luật hóa các nội dung phù hợp, đồng thời hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí và danh mục phân loại xanh theo hướng đồng bộ với xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và yêu cầu hội nhập quốc tế. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho huy động, phân bổ các nguồn lực phục vụ chuyển đổi xanh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy thương mại xanh.

Bên cạnh đó, cần phát huy hiệu quả cơ chế điều phối liên ngành trong triển khai các mục tiêu chuyển đổi xanh. Trên cơ sở Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26, được kiện toàn theo Quyết định số 1732/QĐ-TTg ngày 12/8/2025, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối theo hướng bao quát hơn các nhiệm vụ chuyển đổi xanh, bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách, tiêu chí, nguồn lực và tổ chức thực hiện, qua đó nâng cao hiệu quả triển khai các mục tiêu đã đề ra.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, thể chế chính sách theo hướng đồng bộ, ổn định để Nghị quyết đi sâu vào thực tiễn của công cuộc chuyển đổi

Thể chế, cơ chế, chính sách đóng vai trò rường cột cho chiến lược chuyển đổi. Cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi xanh và chuẩn hóa tiêu chí xanh để có căn cứ thực hiện, đánh giá, đồng thời ràng buộc trách nhiệm pháp lý của mọi chủ thể trong công cuộc chuyển đổi xanh. Mỗi chủ trương lớn cần đi kèm một "gói thực thi" được thiết kế đồng bộ - văn bản hướng dẫn, thời hạn, nguồn lực và cơ quan chịu trách nhiệm. Cần nghiên cứu bổ sung các chỉ tiêu về chuyển đổi xanh, giảm phát thải nhà kính gắn chặt với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của cả nước và từng địa phương, song song với xây dựng hệ thống kiểm kê phát thải để xử lý ô nhiễm hiệu quả.

Ngoài ra, cần sớm ban hành hướng dẫn và các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các dự án chuyển đổi xanh, cho phép triển khai thí điểm từ 6 - 12 tháng đối với các lĩnh vực ưu tiên (như năng lượng tái tạo, giao thông xanh, công trình xanh, khu công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, quản lý tài nguyên, quản lý chất thải,…); ban hành hướng dẫn quốc gia về tài chính chuyển đổi cho các ngành phát thải cao; vận hành thống nhất danh mục phân loại xanh và bộ tiêu chí đáp ứng các chuẩn mực quốc tế để mỗi dự án chuyển đổi là một "tấm hộ chiếu xanh". Cần nghiên cứu công bố lộ trình dài hạn về phân bổ hạn ngạch và định giá carbon, tạo tín hiệu ổn định cho đầu tư, thúc đẩy hệ thống đánh giá tiêu chuẩn xanh trong nước tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, tạo bước chuyển quan trọng từ quản lý hành chính sang cơ chế thị trường trong giảm phát thải, góp phần thực hiện cam kết Net Zero của Việt Nam đến năm 2050.

Ba là, phát triển hạ tầng đồng bộ, xây dựng hạ tầng dữ liệu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số và số hóa dữ liệu quốc gia

Việc phát triển hạ tầng công nghệ không chỉ giúp Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, mà kinh nghiệm trên thế giới đã cho thấy các công nghệ mới đã góp phần quan trọng trong hoạt động chuyển đổi xanh. Chuyển đổi số và số hóa dữ liệu cần được triển khai đa ngành, đa lĩnh vực như hạ tầng đô thị và quản lý đô thị, hạ tầng nông thôn và nông nghiệp, y tế, giáo dục, giao thông vận tải, logistics, hạ tầng số viễn thông và công nghệ thông tin, dịch vụ công và cải cách hành chính… nhằm kiến tạo kiềng ba chân: Chính phủ số - Kinh tế số - Xã hội số cho hành trình phát triển bền vững của quốc gia.

Bên cạnh sự đầu tư phát triển đồng bộ của Nhà nước, cần có sự kết hợp chặt chẽ và cộng hưởng từ doanh nghiệp và người dân nhằm tạo ra hạ tầng thông minh, tối ưu hóa dòng chảy dữ liệu và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Việt Nam cũng cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân để thúc đẩy đầu tư cho công nghệ và chuyển đổi số tại các doanh nghiệp (ưu đãi về thuế, phí khi thực hiện hoạt động đầu tư cho công nghệ, R&D; đơn giản hóa thủ tục để tiếp cận tài chính phục vụ mục đích chuyển đổi số…). Từ chuyển đổi số và số hóa dữ liệu quốc gia về chuyển đổi số - chuyển đổi xanh, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong phát triển bên vững, cần hình thành cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn xanh, danh mục xanh, dự án xanh dùng chung giữa các bộ, ngành, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy minh bạch và hiệu quả trong công cuộc chuyển đổi.

Bốn là, xác định trọng tâm ngành, lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi xanh, thí điểm chuyển đổi xanh tại các địa bàn ưu tiên

Thúc đẩy chuyển đổi xanh đối từng nhóm ngành, lĩnh vực cụ thể nhằm tạo chuyển biến rõ rệt trong chuyển đổi như ngành nông - lâm - ngư nghiệp; ngành năng lượng; ngành giao thông - vận tải; ngành xây dựng và phát triển đô thị; công nghiệp chế biến - chế tạo và công nghệ chiến lược; thúc đẩy tiêu dùng xanh; phát triển kinh tế biển và thích ứng với biến đổi khí hậu… Đồng thời, cần xem xét thí điểm chuyển đổi xanh đối với các địa bàn ưu tiên nhằm triển khai mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp xanh; mô hình đô thị xanh; nông thôn chuyển đổi xanh.

Cụ thể, với mỗi vùng, mỗi địa bàn triển khai các hoạt động chuyển đổi xanh trọng tâm, từ đó rút kinh nghiệm và áp dụng chọn lọc để nhân rộng các mô hình thí điểm. Trong đó, 2 đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò mũi nhọn trong phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bền vững, hướng tới xây dựng đô thị xanh văn minh, hiện đại, hạ tầng thông minh và phát triển môi trường bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế vùng, vươn mình trở thành trung tâm kinh tế hiện đại cả nước và khu vực châu Á. Việc triển khai các mô hình thí điểm và nhân rộng mô hình cần triển khai theo từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu tiến độ chuyển đổi toàn diện và hiện thực hóa Net-Zero đến năm 2050.

Năm là, đầu tư phát triển nguồn nhân lực xanh chất lượng cao, tăng cường các giải pháp giáo dục, đào tạo nhằm tạo đột phá về tư duy trên hành trình phát triển bền vững

Cần xây dựng bản đồ thị trường lao động xanh với khung năng lực xanh, danh mục nghề nghiệp xanh, cơ chế ưu đãi đối với các chuyên gia kỹ thuật cao, có năng lực và kinh nghiệm chuyển đổi và phát triển kinh tế xanh; từ đó, xây dựng và triển khai đào tạo toàn quốc về “xanh” đa lĩnh vực, nhằm phát triển thế hệ lao động chất lượng cao, có trách nhiệm với xã hội, lối sống xanh, thích ứng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Công tác tuyên giáo và dân vận cần đổi mới, nghiên cứu thúc đẩy phong trào "Bình dân học vụ xanh" từ kinh nghiệm triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” để nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công cuộc chuyển đổi và phát triển mô hình tăng trưởng mới. Với hệ thống ngân hàng, cần đẩy mạnh đào tạo cán bộ về ngân hàng xanh, tín dụng xanh, nâng cao năng lực thẩm định rủi ro môi trường - xã hội của dự án.

Nghiên cứu triển khai phong trào “Bình dân học vụ xanh” từ kinh nghiệm triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)
Nghiên cứu triển khai phong trào “Bình dân học vụ xanh” từ kinh nghiệm triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Sáu là, phát triển tài chính xanh hiệu quả, an toàn, đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn

Để dòng vốn xanh dẫn dắt công cuộc chuyển đổi xanh, cần có chiến lược phát triển đồng bộ nguồn lực tài chính theo lộ trình, bảo đảm ưu đãi đến đúng doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Cần nghiên cứu và triển khai cơ chế tài chính chuyển đổi cho doanh nghiệp ngành "nâu" có lộ trình giảm phát thải đáng tin cậy. Nhằm phát triển nguồn vốn phục vụ cho chiến lược phát triển dài hạn, cần tận dụng nguồn vốn quốc tế và thúc đẩy thị trường vốn trong nước, đa dạng hóa sản phẩm tài chính xanh, phát triển thị trường trái phiếu xanh, xây dựng và phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh tín dụng xanh cho doanh nghiệp, công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá cho vốn ngoại tệ; nghiên cứu công cụ tái cấp vốn xanh có điều kiện, gắn với công bố thông tin và kiểm chứng độc lập.

Đặc biệt, từng bước đưa rủi ro khí hậu vào khung quản trị rủi ro và giám sát ngân hàng; tăng cường kiểm soát "tẩy xanh" và các vấn đề liên quan. Trong đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc chuyển đổi xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh trong nước. Các cấp ủy, nhất là đảng ủy các bộ, ngành, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nhà nước, cần đưa việc thực hiện các mục tiêu chuyển đổi xanh vào chương trình kiểm tra, giám sát thường xuyên, đo bằng kết quả cuối cùng chứ không chỉ bằng số văn bản ban hành. Chống “tẩy xanh” không chỉ góp phần bảo đảm các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, mà còn bảo vệ niềm tin của xã hội vào chủ trương chuyển đổi xanh, hướng tới mô hình tăng trưởng bền vững của đất nước.

Đối với khối ngân hàng thương mại, đặc biệt là vai trò của các ngân hàng có vốn Nhà nước, cần thúc đẩy triển khai những nỗ lực cụ thể như: (i) Gắn mục tiêu xanh với kế hoạch và đánh giá toàn diện hoạt động tài chính - ngân hàng của ngân hàng thương mại, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng trong ngân hàng thương mại đối với việc thực thi Nghị quyết chuyển đổi kép; (ii) Giao vai trò “đi trước, mở đường” cho khối ngân hàng thương mại nhà nước đối với những phần “khó”, cần đào sâu nghiên cứu, xây dựng, phát triển, chia sẻ khung chuẩn và kinh nghiệm chuyển đổi đối với các vùng “nâu”, vùng “chưa xanh” của nền kinh tế như các ngành phát thải cao, thị trường carbon; (iii) Tạo cơ chế để ngân hàng thương mại “dám” dẫn dắt thị trường với cơ chế đánh giá phù hợp theo chu kỳ dài hạn, cho phép rủi ro hợp lý trong khuôn khổ an toàn hệ thống.

Bảy là, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với việc triển khai chiến lược chuyển đổi xanh quốc gia

Để thúc đẩy chuyển đổi xanh quốc gia, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị và điều phối theo hướng đồng bộ, hiệu quả, gắn với hệ thống theo dõi, đánh giá và giám sát công khai, minh bạch. Trong đó, các mục tiêu chuyển đổi xanh cần được cụ thể hóa bằng những tiêu chí phù hợp, có khả năng đo lường, làm cơ sở đánh giá tiến độ và hiệu quả thực hiện tại từng ngành, lĩnh vực và địa phương.

Cùng với đó, cần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và định chế tài chính trong tổ chức thực hiện; hoàn thiện cơ chế báo cáo, thẩm tra và giám sát để bảo đảm các nguồn lực dành cho chuyển đổi xanh, trong đó có tín dụng xanh, được sử dụng đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả. Việc tăng cường phối hợp, kiểm tra và đánh giá thường xuyên cũng góp phần kịp thời nhận diện những vướng mắc, hạn chế, qua đó nâng cao chất lượng và tính bền vững của quá trình chuyển đổi xanh.

Lời kết

Trên chặng đường bứt tốc của kỷ nguyên vươn mình, chuyển đổi kép - chuyển đổi số và chuyển đổi xanh - là bệ phóng cho mô hình tăng trưởng mới. Trong đó, chuyển đổi xanh là con đường hiện thực hóa khát vọng lớn mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra, nhằm xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững, kiến tạo một Việt Nam xanh, trách nhiệm, phát triển thịnh vượng, nhân văn, hiện đại. Khơi thông mạch nguồn xanh vì thế không đơn thuần là nhiệm vụ của riêng từng ngành. Đó là phép thử về năng lực lãnh đạo, năng lực kiến tạo và trách nhiệm thực thi của cả hệ thống chính trị.

Một chính sách ưu đãi chưa đến được với doanh nghiệp, địa phương thì vẫn là nút thắt cần tháo gỡ. Phát triển những vùng "đã xanh" mà bỏ ngỏ những vùng "nâu" của nền kinh tế thì chưa tạo được động lực chuyển đổi. Chuyển đổi xanh có thể làm được nhiều hơn những gì đang làm, nếu có sự thống nhất từ tư duy đến hành động; từ Trung ương đến địa phương; từ tổ chức, doanh nghiệp đến từng cá nhân, hộ kinh doanh, lực lượng lao động trong toàn xã hội.

Lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng đã nhiều lần chứng minh: Khi ý Đảng hợp với lòng dân, khi cả hệ thống cùng chung một nhịp, không có mục tiêu nào là quá xa. Cuộc cách mạng chuyển đổi xanh hôm nay cũng vậy. Mỗi đồng vốn được dẫn tới một công nghệ sạch hơn, mỗi doanh nghiệp dám thay đổi để sản xuất ít carbon hơn, mỗi cánh đồng phát thải thấp được gieo trồng - đều là một viên gạch xây nên nền kinh tế xanh của Việt Nam. Khi mạch nguồn được khơi thông, chuyển đổi xanh là con đường để Việt Nam tăng trưởng bằng những giá trị mới, bền bỉ hơn, tự chủ hơn và mạnh mẽ hơn để dân tộc vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng.

Tài liệu tham khảo:

1. BIDV (2026), Báo cáo Phát triển bền vững năm 2025.

2. Bộ Chính trị (2024 - 2026), Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của

4. Đảng ủy BIDV (2023), Nghị quyết số 27-NQ/ĐU ngày 03/10/2023 về triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu.

5. Đảng ủy BIDV (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ BIDV lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025-2030.

6. Đảng ủy BIDV (2026), Nghị quyết số 48-NQ/ĐU về Chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

7. Quốc hội (2025), Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

8. TheLEADER (2026), Bộ Chính trị đặt mục tiêu đột phá trong khoa học, công nghệ và chuyển đổi số: https://theleader.vn/bo-chinh-tri-dat-muc-tieu-dot-pha-trong-khoa-hoc-cong-nghe-va-chuyen-doi-so-d38522.html

9. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 1732/QĐ-TTg ngày 12/8/2025 kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26.

10. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh.

11. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII. Bộ Công Thương: https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/chinh-thuc-phe-duyet-quy-hoach-dien-viii-dieu-chinh.html;

12. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG.

13. Tổng Bí thư Tô Lâm (17/4/2025), Phát biểu tại Hội nghị P4G Việt Nam 2025.

14. VnEconomy (9/2026), Đã có 1.310 hạn ngạch giao dịch trên sàn carbon trong nước, sau hơn 2 tháng vận hành (Trích dẫn thông tin báo cáo Cục Biến đổi khí hậu): https://vneconomy.vn/da-co-1310-han-ngach-giao-dich-tren-san-carbon-trong-nuoc-sau-hon-2-thang-van-hanh.htm

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/dan-dat-chuyen-doi-xanh-thuc-day-mo-hinh-tang-truong-moi-ky-2-189933.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.