Chỉ số kinh tế:
Ngày 30/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.637 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.406/26.868 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới (Kỳ I)

Nguyễn Ngọc Nhật *
Nguyễn Ngọc Nhật *  - 
Dưới sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng, công cuộc chuyển đổi xanh đang dần chuyển hóa từ những quyết sách chiến lược thành xung lực mới, kiến tạo mô hình tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên bứt phá của đất nước.
aa

Đại hội XIV của Đảng mở ra kỷ nguyên phát triển vươn mình của đất nước với khát vọng đưa Việt Nam phát triển bứt phá, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực khát vọng đó, Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng giữ vị trí chiến lược; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cùng tạo nên những động lực mới, nâng cao chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.

Từ định hướng chiến lược, chuyển đổi xanh đang đang bước vào giai đoạn tăng tốc, kiến tạo mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế quốc gia. Khơi thông nguồn lực thúc đẩy công cuộc chuyển đổi xanh không chỉ là bài toán cấp chiến lược, mà còn là quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Làm thế nào để chuyển đổi xanh từ một yêu cầu phát triển bền vững trở thành động lực phát triển bền vững, mở ra dư địa cho mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế? Và đâu là những đột phá để tạo đòn bẩy thúc đẩy chuyển đổi xanh? Đó là những vấn đề trọng tâm được phân tích trong loạt bài hai kỳ này.

KỲ I: CHUYỂN ĐỔI XANH - TỪ QUYẾT SÁCH ĐẾN SỨC BẬT TĂNG TRƯỞNG

Khi carbon ngày càng được định giá, tài nguyên và năng lượng trở thành những biến số cạnh tranh, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác và sử dụng nguồn lực theo chiều rộng đang đối diện những giới hạn mới. Nhưng từ chính sức ép ấy, một hướng đi khác đang hình thành: Tạo ra nhiều giá trị hơn với ít tài nguyên và phát thải hơn. Chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu của tương lai, mà đang mở ra những cơ hội tăng trưởng cho nền kinh tế quốc gia ngay hôm nay.

Từ hạt gạo phát thải thấp đến động lực chuyển đổi xanh

Trên những cánh đồng Đồng bằng sông Cửu Long, cuộc chuyển đổi sang mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang bắt đầu từ những thay đổi tưởng chừng rất nhỏ: Gieo ít giống hơn, sử dụng phân bón hợp lý hơn, quản lý nước tưới chặt chẽ hơn và giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật. Ít đầu vào hơn nhưng hiệu quả sản xuất lại được cải thiện. Đó là một nghịch lý nếu nhìn từ tư duy sản xuất truyền thống, vốn thường gắn tăng sản lượng với tăng lượng vật tư sử dụng.

Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tại Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long tháng 3/2026 vừa qua, diện tích tham gia đã đạt 354.839 ha, bằng 197% mục tiêu giai đoạn đầu. Đặc biệt, tại các mô hình thí điểm áp dụng quy trình kỹ thuật do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%, phân bón giảm 30%, nước tưới giảm 20%; năng suất tăng khoảng 12%, chi phí đầu vào giảm khoảng 40%, lợi nhuận bình quân tăng thêm 6 triệu đồng/ha/vụ và phát thải khí nhà kính giảm khoảng 3 - 4 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ (Trung tâm Khuyến nông quốc gia, tháng 3/2026).

Mô hình phát triển hạt gạo phát thải thấp được triển khai thí điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn ảnh: VnEconomy)
Mô hình phát triển hạt gạo phát thải thấp được triển khai thí điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn ảnh: VnEconomy)

Như vậy, giảm phát thải không nhất thiết đồng nghĩa với tăng chi phí sản xuất. Trong những điều kiện phù hợp, đây là kết quả trực tiếp của việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, mang lại giá trị cao và bền vững hơn. Ở một khía cạnh khác, câu chuyện ấy cũng đặt ra vấn đề lớn hơn cho nền kinh tế: Nếu hiệu quả sản xuất có thể tăng lên cùng với việc giảm tiêu hao tài nguyên trong nông nghiệp, điều gì sẽ xảy ra khi tư duy đó được mở rộng sang công nghiệp, năng lượng, giao thông và các ngành dịch vụ... Rộng hơn nữa, việc triển khai đồng bộ các giải pháp chuyển đổi xanh từ Trung ương đến địa phương, từ các cấp, các ngành đến toàn xã hội trong đa ngành, đa lĩnh vực, công cuộc chuyển đổi xanh sẽ đem lại nhiều hơn những giá trị vốn đã đem lại, góp phần kiến thiết nên một mô hình tăng trưởng mới: Xanh hơn, bền vững hơn và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng.

Khát vọng tăng trưởng mới từ "luật chơi" toàn cầu

Từ ngày 01/01/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) chính thức bước vào giai đoạn thực thi. Đối với những nhóm hàng thuộc phạm vi điều chỉnh như sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro, lượng phát thải hàm chứa trong sản phẩm trở thành một thông số có ý nghĩa trực tiếp đối với nghĩa vụ của nhà nhập khẩu tại thị trường EU. Tại Việt Nam, ngành thép đứng ở tuyến đầu. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, năm 2025 cả nước xuất khẩu khoảng 10,06 triệu tấn thép, đạt 6,63 tỉ USD, trong đó EU chiếm hơn 21% giá trị. Như vậy, cơ chế CBAM sẽ tác động trực tiếp đến những doanh nghiệp có đơn hàng châu Âu, nếu biên lợi nhuận mỏng và chưa có lộ trình chuyển đổi, có thể bị bào mòn bởi một khoản chi phí chưa từng có trong bảng tính giá thành, và không loại trừ nguy cơ bị “loại bỏ” khỏi thị trường với điều kiện ngày càng khắt khe.

Đây không đơn thuần là một thay đổi trong chính sách môi trường của châu Âu. Một luật chơi mới đang hình thành dưới các “tảng băng trôi”. Nhiều nền kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã áp dụng chuẩn mực công bố thông tin bền vững. Các tập đoàn đa quốc gia cam kết giảm phát thải trong toàn chuỗi cung ứng và yêu cầu nhà cung cấp báo cáo dấu chân carbon. Nhà đầu tư và tổ chức tài chính đưa tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị (ESG) vào quyết định rót vốn. Tiêu chuẩn xanh, mức độ tuân thủ tiêu chuẩn bền vững đang ngày càng ảnh hưởng tới cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với một nền kinh tế đa dạng hóa, đa phương hóa như Việt Nam, khu vực chế biến, chế tạo gắn chặt với thị trường quốc tế, sự thay đổi ấy tác động lớn đến việc sản xuất trong nước. Lợi thế lao động, chi phí và năng lực sản xuất vốn là ưu thế, nhưng chưa đủ để bảo đảm sức cạnh tranh dài hạn. Nếu nền kinh tế không chủ động đổi mới công nghệ, kiểm soát phát thải, sức ép từ luật chơi mới sẽ trở thành lực cản tốc độ và mục tiêu tăng trưởng quốc gia.

Đột phá tư duy, mở đường cho hành trình chuyển đổi

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phát triển tăng trưởng mới, hướng tới các mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững. Nghị quyết Đại hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng trên 55%, tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm; đồng thời phấn đấu giảm tiêu hao năng lượng tính trên một đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm.

Một trong những điểm mới mang tính đột phá trong tư duy phát triển khi Đại hội XIV khẳng định: "Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm". Môi trường không còn là cái giá phải trả cho tăng trưởng, mà trở thành một thước đo của tăng trưởng. Từ tư duy ấy, Nghị quyết yêu cầu "xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả", "trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn"; đặt yêu cầu phát triển hạ tầng "phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu" là khâu đột phá chiến lược.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách và phân bổ nguồn lực trong việc hiện thực hóa các mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Văn kiện chỉ rõ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời đổi mới mạnh mẽ phương thức huy động và sử dụng các nguồn lực xã hội cho phát triển xanh.

Nghị quyết Đại hội XIV cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng về nhận thức và tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng và môi trường: Chuyển đổi kép "xanh - số" và kinh tế tuần hoàn được đặt vào trung tâm của mô hình tăng trưởng mới; gắn bó hữu cơ với mô hình tăng trưởng và chất lượng phát triển. Trong đó, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Chuyển đổi xanh thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Đại hội XIV thể hiện rõ tư duy phát triển của Đảng khi đặt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế bền vững với nâng cao chất lượng xã hội và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh; coi chất lượng môi trường là một tiêu chí quan trọng phản ánh hiệu quả và tính bền vững của phát triển. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư tưởng “lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của phát triển”, đồng thời tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để thúc đẩy các chính sách chuyển đổi xanh trong thực tiễn.

Đồng thời, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết được ban hành ngay tại Đại hội, cho thấy quyết tâm cao của toàn Đảng trong việc đưa những quyết sách chiến lược sớm đi vào thực tiễn, gắn mục tiêu với nhiệm vụ, nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Bộ Chính trị cũng ban hành và triển khai đồng bộ 9 Nghị quyết chiến lược tạo nên một khuôn khổ đồng bộ, tái thiết kế cơ chế, chính sách cho phát triển bền vững, cho thấy quyết tâm cao độ và tiếp cận toàn diện các lĩnh vực nhằm thúc đẩy chiến lược quốc gia về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thực hành ESG, phát triển kinh tế tuần hoàn, chống biến đổi khí hậu; đồng thời, tái thiết kế cơ chế, chính sách nhằm phát triển kinh tế bền vững, chủ động thích ứng và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Đại hội và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược phát triển mô hình tăng trưởng mới (Nguồn ảnh: Báo Tuổi trẻ)
Đại hội và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược phát triển mô hình tăng trưởng mới (Nguồn ảnh: Báo Tuổi trẻ)

Điểm cần nhấn mạnh là, yêu cầu phát triển bền vững không phải đến Đại hội XIV mới được Đảng đặt ra. Tư duy không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đã được khẳng định qua nhiều nhiệm kỳ. Bước phát triển có ý nghĩa ở giai đoạn hiện nay nằm ở việc chuyển đổi xanh được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức, Việt Nam đứng trước câu trả lời cho câu hỏi: “Tăng trưởng bao nhiêu” và “Tăng trưởng như thế nào”. Câu trả lời không đến một cách bị động từ sức ép bên ngoài, mà là kết quả của một tiến trình nhận thức chủ động, kiên trì, quyết liệt và sáng suốt của Đảng, sự sẵn sàng vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, là trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp và nguyện vọng của toàn dân. Chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh không chỉ là yêu cầu của thực tiễn, mà là lựa chọn của Việt Nam trong kỷ nguyên bứt phá trên hành trình phát triển.

“Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

(Trích dẫn bài viết "Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững", tháng 6/2026)

“Xanh” khởi sắc trên bản đồ nền kinh tế chuyển đổi

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của các địa phương, doanh nghiệp, đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển xanh trên các vùng kinh tế. Chuyển đổi xanh phát huy tính ưu việt, khắc phục những điều kiện khó khăn của khí hậu và môi trường tự nhiên. Nhiều doanh nghiệp, địa phương đã và đang có những “bước tiến xanh” trên hành trình chuyển đổi và phát triển kinh tế vùng.

Chuyển đổi xanh đang mở ra một khả năng khác: Tìm lại những giá trị từng bị bỏ phí. Năm 2024, hệ thống nhà máy điện tận dụng nhiệt dư, khí thừa tại hai khu liên hợp gang thép của Hòa Phát ở Hải Dương và Dung Quất phát khoảng 3,18 tỉ kWh, giúp tập đoàn tự chủ trên 90% nhu cầu điện cho sản xuất thép, tương đương khoảng 5.400 tỉ đồng chi phí điện nếu quy theo giá hiện hành. Tận dụng nhiệt dư chưa biến toàn bộ quy trình luyện thép thành công nghệ carbon thấp, nhưng chứng minh một hướng cải thiện có giá trị kinh tế rõ ràng: Giảm lãng phí năng lượng, tăng tự chủ và kiểm soát chi phí. Theo nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) về lộ trình đưa ngành điện Việt Nam đến phát thải ròng bằng 0, các giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả có tiềm năng giảm gần 20% mức tăng nhu cầu điện vào năm 2030 so với kịch bản tham chiếu. Đó là tiềm năng theo mô hình chuyển đổi năng lượng xanh, đảm bảo an ninh năng lượng cho một hành trình phát triển dài hạn.

Dây chuyền sản xuất gang thép theo công nghệ tuần hoàn tại Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát (Nguồn ảnh: Tập đoàn Hòa Phát)
Dây chuyền sản xuất gang thép theo công nghệ tuần hoàn tại Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát (Nguồn ảnh: Tập đoàn Hòa Phát)

Chuyển đổi xanh đã và đang thay đổi phương thức, quan hệ sản xuất giữa các doanh nghiệp, khi mô hình xanh hơn, được ưu tiên phát triển hơn và phát kiến thêm nhiều mô hình sản xuất mới. Trong giai đoạn thí điểm khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam do Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) hỗ trợ, kết thúc năm 2019, 546 giải pháp sử dụng tài nguyên hiệu quả và sản xuất sạch hơn đã được triển khai tại 57 doanh nghiệp, giúp tiết kiệm khoảng 2,9 triệu Euro, cắt giảm khoảng 30.570 tấn CO₂ tương đương và gần 489.000 m³ nước mỗi năm. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở từng nhà máy giảm tiêu hao, mà ở khả năng hình thành chu trình liên kết: Nước sau xử lý được tái sử dụng, phụ phẩm của doanh nghiệp này thành nguyên liệu của doanh nghiệp khác, năng lượng và hạ tầng được tối ưu trên quy mô cả khu công nghiệp.

Mô hình rừng “sinh tiền" từ carbon đang mở ra nguồn giá trị mới tại khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngày 21/3/2024, Việt Nam đã nhận khoản thanh toán 51,5 triệu USD từ Quỹ Đối tác carbon lâm nghiệp thông qua Ngân hàng Thế giới tương đương với 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải được xác minh, với cơ chế chia sẻ lợi ích hướng tới hơn 70.000 chủ rừng và 1.356 cộng đồng sống gần rừng. Lần đầu tiên, người giữ rừng có thêm nguồn thu từ giá trị hấp thụ carbon của chính những cánh rừng họ bảo vệ, biến giá trị môi trường vốn khó định lượng thành nguồn lực kinh tế thực tế.

Từ đồng ruộng đến nhà máy, từ khu công nghiệp đến những cánh rừng, các mô hình khác nhau đều cho thấy một điểm chung: Tăng trưởng không nhất thiết phải đồng nghĩa với sử dụng nhiều tài nguyên hơn. Năng lực tạo ra giá trị mới có thể đến từ chính việc sử dụng những nguồn lực hiện có thông minh hơn.

Dư địa mới trên đường tăng trưởng

Vai trò chuyển đổi xanh không dừng ở giúp các ngành hiện hữu giảm chi phí và phát thải. Chuyển đổi xanh tạo ra thị trường, việc làm, công nghệ và những liên kết kinh tế chưa từng có.

Trong lĩnh vực năng lượng, phát triển điện gió, điện mặt trời và những nguồn năng lượng phát thải thấp không chỉ là bổ sung công suất cho hệ thống điện. Đi cùng với đó là nhu cầu về lưới điện, công nghệ lưu trữ, thiết bị, xây lắp, bảo trì, dịch vụ kỹ thuật, quản trị dữ liệu và giải pháp sử dụng năng lượng thông minh. Ninh Thuận (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa) là minh chứng cho việc phát triển năng lượng tái tạo. Thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TU của Đảng bộ tỉnh về xây dựng trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước, đến năm 2024, tỉnh có 57 dự án với khoảng 3.500 MW vận hành thương mại; năng lượng tái tạo đóng góp khoảng 23% GRDP và 24% thu ngân sách. Từ miền đất nắng gió khắc nghiệt, khí hậu đã được biến thành nguồn lực phát triển.

Khu vực Nam Trung Bộ từng bước trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của Việt Nam, với nhiều dự án điện gió, điện mặt trời lớn (Nguồn ảnh: Báo Khánh Hòa)
Khu vực Nam Trung Bộ từng bước trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của Việt Nam, với nhiều dự án điện gió, điện mặt trời lớn (Nguồn ảnh: Báo Khánh Hòa)

Trong kinh tế tuần hoàn, những nguồn tài nguyên đang bị thất thoát cũng cho thấy dư địa phát triển lớn. Theo Báo cáo hiện trạng chất thải nhựa năm 2022, công bố tại Hội nghị thường niên Chương trình Đối tác hành động quốc gia về nhựa (NPAP) tháng 4/2023, Việt Nam phát sinh khoảng 2,9 triệu tấn chất thải nhựa mỗi năm, nhưng chỉ khoảng 0,77 triệu tấn - tương đương 27% - được tái chế. Phần chưa được thu hồi hiệu quả không chỉ tạo áp lực môi trường, mà còn phản ánh giá trị nguyên liệu chưa được đưa trở lại hoạt động sản xuất. Một nền kinh tế tuần hoàn được tổ chức hiệu quả hơn và tạo ra nhiều giá trị mới nếu tận dụng và thiết kế sản phẩm tái chế, cơ sở phân loại, hạ tầng thu gom, công nghệ tái chế, hệ thống dữ liệu và thị trường cho nguyên liệu tái sinh. Chính nhu cầu ấy có thể hình thành thêm việc làm, doanh nghiệp và ngành dịch vụ mới của nền kinh tế chuyển đổi.

Đối với thương mại và đầu tư, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn bền vững ngày càng có thể trở thành lợi thế để tham gia các chuỗi cung ứng chất lượng cao. Một khu công nghiệp có nguồn điện phù hợp, sử dụng tài nguyên hiệu quả, quản trị tốt và khả năng cung cấp dữ liệu phát thải đáng tin cậy sẽ có thêm điều kiện thu hút những nhà đầu tư đặt yêu cầu cao về môi trường và chuỗi cung ứng.

Chuyển đổi xanh vì thế không phải là tổng cộng của những dự án riêng lẻ, mà là quá trình tái cấu trúc các quan hệ kinh tế: Giữa sản xuất và năng lượng, giữa doanh nghiệp và chuỗi cung ứng, giữa tài nguyên và thị trường, giữa đầu tư trước mắt và giá trị dài hạn.

"Điểm nghẽn" không chỉ ở nguồn vốn

Đột phá về thể chế và cơ chế, dưới sự dẫn dắt quyết liệt của Đảng đã tạo ra nhiều lợi thế thuận lợi, và minh chứng là những kết quả bước đầu của chuyển đổi xanh trên các vùng kinh tế trọng điểm, cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh mục tiêu chuyển đổi. Tuy nhiên, hành trình chuyển đổi từ nền kinh tế "nâu" sang nền kinh tế "xanh" còn một số hạn chế: Khung pháp lý, cơ chế chính sách chưa được triển khai đồng bộ; bên cạnh đó là hạ tầng, nguồn lực như tài chính, công nghệ, nhân lực có năng lực và kinh nghiệm trong chuyển đổi cũng còn hạn chế… Những tồn tại ấy đòi hỏi các cấp, các ngành, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, doanh nghiệp cần thẳng thắn nhìn nhận để cùng vượt qua thách thức, hướng tới hoàn thành sớm các mục tiêu chuyển đổi, tạo đà phát triển nhanh trong kỷ nguyên bứt phá.

Một trong những khoảng cách lớn nhất đó là giữa nhận thức và năng lực thực thi. Khảo sát tiến trình thực hành ESG năm 2025 của PwC Việt Nam cho thấy 61% doanh nghiệp được hỏi đã có chiến lược ESG chính thức, nhưng chỉ 44% triển khai các sáng kiến hướng đến tạo giá trị; 70% coi tuân thủ quy định là động lực chính, chỉ 16% coi giảm chi phí là động lực. Khoảng cách còn hằn rõ giữa các khu vực: 71% doanh nghiệp FDI và 57% doanh nghiệp niêm yết đã có tiến triển trong cam kết ESG, trong khi ở khối doanh nghiệp tư nhân, gia đình, tỉ lệ này chỉ 27%. Theo Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), ba rào cản lớn nhất là thiếu vốn đầu tư (50%), thiếu nhân lực kỹ thuật (46%) và thiếu giải pháp công nghệ xanh (42%).

Với doanh nghiệp, chuyển đổi kép là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh trong dòng chảy kinh tế số và kinh tế xanh toàn cầu. Nhưng khó khăn đặt trực tiếp lên vai doanh nghiệp: Phải bỏ vốn lớn ngay từ đầu trong khi dây chuyền cũ chưa hết khấu hao; công nghệ giảm phát thải sâu ở một số ngành vẫn đang hoàn thiện; doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu cả con người, kinh nghiệm lẫn công cụ đo lường phát thải. Bên cạnh đó, "khoảng trống" nhận thức khiến nhiều doanh nghiệp còn chần chừ, coi chuyển đổi là "chi phí" thay vì "cơ hội" để phát triển.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhận định: “Các doanh nghiệp Việt Nam gần như đang "tự tập bơi" giữa biển lớn khi tiêu chuẩn đầu ra ngày càng cao. Tỉ lệ doanh nghiệp hiểu biết và thực hành ESG còn thấp; nhiều doanh nghiệp chưa đánh giá đầy đủ rủi ro và cơ hội mà chuyển đổi xanh mang lại cho chuỗi cung ứng, sản phẩm và chiến lược kinh doanh. Khó khăn về nguồn lực, thiếu thông tin và hạn chế năng lực quản trị đang là những rào cản khiến chuyển đổi xanh chưa trở thành một phần trong chiến lược dài hạn của nhiều doanh nghiệp”.

Cùng với đó là những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Có dự án năng lượng đã hoàn thành nhưng thiếu điều kiện khai thác hiệu quả. Có công nghệ phù hợp nhưng chưa có cơ chế khuyến khích đủ hấp dẫn. Có nguồn vốn nhưng thiếu dự án đáp ứng yêu cầu, hoặc có doanh nghiệp muốn chuyển đổi nhưng chưa xây dựng được phương án kinh doanh đủ sức thuyết phục nhà đầu tư.

Những tồn tại ấy chỉ là một số biểu hiện của bài toán rộng hơn: Thiếu sự kết nối đồng bộ giữa chính sách, công nghệ, hạ tầng, năng lực doanh nghiệp và thị trường. Từ góc nhìn công tác xây dựng Đảng, thực tế đó đặt ra một yêu cầu quan trọng về phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Việc xác lập đúng mục tiêu có ý nghĩa định hướng, nhưng để mục tiêu ấy trở thành sức mạnh vật chất phải có cơ chế phân công, phối hợp, huy động nguồn lực, kiểm tra, giám sát và đánh giá bằng sản phẩm cuối cùng.

Trong công cuộc chuyển đổi xanh, không chỉ là số lượng chương trình, kế hoạch được ban hành, cũng không chỉ là quy mô vốn đã huy động. Đó phải là công nghệ được đổi mới, năng lượng được tiết kiệm, hiệu quả sản xuất được nâng lên, doanh nghiệp mở rộng được thị trường và người dân có sinh kế tốt hơn.

Bởi vậy, vấn đề lớn đặt ra sau những điểm sáng trên bản đồ kinh tế xanh không còn đơn thuần là liệu chuyển đổi xanh có thể tạo ra tăng trưởng hay không. Thực tiễn bước đầu đã cho thấy khả năng ấy. Câu hỏi cấp thiết hơn là: Làm thế nào để những thành công riêng lẻ trở thành một quá trình chuyển đổi có quy mô, có sức lan tỏa và tạo ra năng lực phát triển mới cho đất nước?

Đó là lúc vai trò kiến tạo thể chế, dẫn dắt đổi mới công nghệ, tổ chức lại sản xuất, phát triển nguồn nhân lực và khơi thông dòng vốn phải được đặt trong một chiến lược hành động thống nhất. Để chuyển đổi xanh không chỉ xuất hiện ở những mô hình tiên phong, mà trở thành động lực phát triển của nền kinh tế bền vững.

(Đón xem Kỳ II: Khơi thông mạch nguồn chuyển đổi xanh - Đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng mới)

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (2022), Nghị quyết số 20-NQ/TU về xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng, năng lượng tái tạo của cả nước.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Trung tâm Khuyến nông quốc gia (3/2026), Báo cáo sơ kết hai năm thực hiện Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. https://mae.gov.vn/

3. Cơ quan Năng lượng quốc tế - IEA (2024), Achieving a Net Zero Electricity Sector in Viet Nam: https://www.iea.org/reports/achieving-a-net-zero-electricity-sector-in-viet-nam

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (toàn văn); Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.

5. GEF/UNIDO (31/1/2020). Fostering eco-industrial parks in Viet Nam: https://www.thegef.org/news/fostering-eco-industrial-parks-viet-nam

6. GS. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (4/6/2026), Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.

7. Hiệp hội Thép Việt Nam (2026), Số liệu sản xuất, xuất khẩu thép năm 2025.

8. Hội nghị thường niên NPAP (2022), Báo cáo hiện trạng chất thải nhựa năm 2022.

9. Người Quan sát (27/4/2025). Phó Giám đốc Ban IV: “Nhận thức của doanh nghiệp về chuyển đổi xanh đã thay đổi”: https://nguoiquansat.vn/pho-giam-doc-ban-iv-nhan-thuc-cua-doanh-nghiep-ve-chuyen-doi-xanh-da-thay-doi-214385.html

10. PwC Việt Nam (18/9/2025), Báo cáo Khảo sát tiến trình thực hành ESG năm 2025. https://www.pwc.com/vn/vn/publications/vietnam-publications/esg-progress-tracker-2025.html

11. Tạp chí Công Thương (19/2/2025), Hòa Phát tiết kiệm 5.400 tỉ đồng nhờ tự sản xuất điện: https://tapchicongthuong.vn/hoa-phat-tiet-kiem-5-400-ty-dong-nho-tu-san-xuat-dien-133306.htm

12. UBND tỉnh Ninh Thuận (2025), Báo cáo kết quả phát triển năng lượng tái tạo năm 2024.

13. Ủy ban châu Âu - Tổng vụ Thuế và Liên minh Hải quan (2026), Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM): https://taxation-customs.ec.europa.eu/carbon-border-adjustment-mechanism_en

14. VnEconomy (2024), Lần đầu tiên Việt Nam bán thành công tín chỉ carbon rừng với trị giá 51,5 triệu USD: https://vneconomy.vn/lan-dau-tien-viet-nam-ban-thanh-cong-tin-chi-carbon-rung-voi-tri-gia-51-5-trieu-usd.htm

Nguyễn Ngọc Nhật *
* Đảng ủy Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Tin liên quan

Tin khác

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 2

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 2

Kiến tạo tương lai: Giải pháp và chương trình hành động thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Vietcombank

Kiến tạo tương lai: Giải pháp và chương trình hành động thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Vietcombank

Bài viết đề xuất định hướng và chương trình hành động thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Vietcombank trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW, văn bản triển khai của Chính phủ và Báo cáo thường niên 2024. Nghiên cứu phân tích tài liệu và trường hợp Vietcombank theo các nhóm thể chế, công nghệ, dữ liệu, nhân lực, văn hóa, an toàn và phát triển bền vững. Bài viết hệ thống hóa năm quan điểm định hướng, mục tiêu hành động và mười nhóm giải pháp, từ trách nhiệm lãnh đạo, quản trị sáng kiến, hạ tầng dữ liệu và AI có trách nhiệm đến đổi mới dịch vụ, nhân lực, hợp tác, an ninh mạng và tài chính xanh. Mỗi sáng kiến cần có chủ thể phụ trách, thời hạn, chỉ số đánh giá và quy trình thí điểm, rà soát, nhân rộng; qua đó chuyển chủ trương đổi mới thành kết quả có thể kiểm chứng cho khách hàng, ngân hàng và xã hội.
Chuyển mình giữa dòng chảy: Thực tiễn và xu thế đổi mới sáng tạo tại Vietcombank

Chuyển mình giữa dòng chảy: Thực tiễn và xu thế đổi mới sáng tạo tại Vietcombank

Bài viết phân tích thực tiễn và xu thế đổi mới sáng tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trong bối cảnh chuyển đổi số làm thay đổi hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu, nghiên cứu trường hợp và tổng hợp thông tin công khai của Vietcombank giai đoạn 2024–2026, trong khuôn khổ Nghị quyết số 57-NQ/TW và pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả cho thấy đổi mới đã chuyển từ số hóa từng giao dịch sang phát triển dịch vụ số, tự động hóa quy trình, kết nối hệ sinh thái và xây dựng văn hóa số. Minh chứng gồm VCB Digibank, Online Lending, VCB Tablet, kết nối ký số qua VNeID và cảnh báo giao dịch có dấu hiệu gian lận. Hiệu quả cần được đánh giá đồng thời qua trải nghiệm khách hàng, mức độ bao trùm, khai thác dữ liệu, an toàn hệ thống và hiệu quả kinh tế. Bài viết nhận diện hạn chế, vấn đề đặt ra và xu thế đổi mới, đồng thời đề xuất định hướng phát triển ngân hàng số an toàn, lấy khách hàng làm trung tâm và tạo giá trị bền vững.
[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 1

[Emagazine] Tài chính toàn diện khơi thông nguồn lực, kiến tạo nông thôn thịnh vượng - Kỳ 1

An ninh dữ liệu trong bối cảnh gia tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu ngân hàng: Yêu cầu pháp lý và hàm ý quản trị tại Việt Nam

An ninh dữ liệu trong bối cảnh gia tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu ngân hàng: Yêu cầu pháp lý và hàm ý quản trị tại Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và việc triển khai Thông tư số 64/2024/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về triển khai giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) trong ngành Ngân hàng mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu, đồng thời gia tăng rủi ro từ đối tác công nghệ, sử dụng dữ liệu sai mục đích, trí tuệ nhân tạo (AI) và xử lý dữ liệu xuyên biên giới. Bài viết phân tích các rủi ro, đối chiếu với khuôn khổ pháp lý hiện hành và đề xuất yêu cầu quản trị nhằm bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời, đồng thời xác định trách nhiệm của ngân hàng và các bên liên quan.
Đi tìm nguyên nhân sức mua chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế

Đi tìm nguyên nhân sức mua chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế

Đầu tư, sản xuất và xuất khẩu có thể đưa GDP tăng tốc, nhưng để thành quả đó trở thành sức mua bền vững, Việt Nam cần một mắt xích quan trọng hơn, đó là chuyển tăng trưởng thành thu nhập thực và niềm tin của hộ gia đình.
Nền tảng vi mô của ổn định kinh tế vĩ mô: Từ lý thuyết đến chính sách

Nền tảng vi mô của ổn định kinh tế vĩ mô: Từ lý thuyết đến chính sách

Ổn định kinh tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất hay chi tiêu công, mà còn phụ thuộc vào cách cá nhân và doanh nghiệp đưa ra quyết định, hình thành kỳ vọng và phản ứng với chính sách. Công trình của Robert E. Hall và Michael Woodford - Chủ nhân Giải Nobel Kinh tế 2026 đã góp phần định hình tư duy kinh tế vĩ mô hiện đại, giúp các ngân hàng trung ương (NHTW) và chính phủ ứng phó hiệu quả hơn với lạm phát, suy thoái và các cú sốc kinh tế.
Kinh nghiệm triển khai Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại Colombia, Peru và một số hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm triển khai Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại Colombia, Peru và một số hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm triển khai Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB) ban hành tại Colombia và Peru, đồng thời gợi mở một số định hướng chính sách cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện và triển khai IFRS thời gian tới.
Tư duy và lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới - Cơ sở lý luận cho sự phát triển của Vietcombank

Tư duy và lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới - Cơ sở lý luận cho sự phát triển của Vietcombank

Bài viết phân tích tư duy, quan điểm của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong kỷ nguyên mới; làm rõ ý nghĩa định hướng đối với ngành Ngân hàng; khảo sát việc vận dụng tại Vietcombank trên các phương diện nhận thức và quản trị, ngân hàng số, sản phẩm - mô hình kinh doanh, kiểm soát rủi ro, nhân lực và văn hóa đổi mới. Trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIV, các văn bản pháp luật mới và công bố của Vietcombank, bài viết cho thấy đổi mới sáng tạo đã trở thành một thành tố của năng lực cạnh tranh và chất lượng phục vụ. Đồng thời, hiệu quả đổi mới cần được nhìn nhận qua khả năng tạo giá trị thực, mức độ an toàn, sự tin cậy và tính bao trùm, chứ không chỉ qua quy mô đầu tư công nghệ hay số lượng tiện ích số.
VietinBank hiện thực hóa Nghị quyết 79: "Lời đáp từ thực tiễn" cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (Kỳ 3)

VietinBank hiện thực hóa Nghị quyết 79: "Lời đáp từ thực tiễn" cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (Kỳ 3)

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ là lời khẳng định vị thế mà quan trọng hơn, là "mệnh lệnh đổi mới" toàn diện đối với khu vực kinh tế nhà nước. Bước vào "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", VietinBank đang khẳng định vị thế hình mẫu của một ngân hàng tương mại nhà nước hiện đại: đi đầu về công nghệ số, chuẩn mực về quản trị rủi ro, vươn tầm khu vực và giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng – cội nguồn của mọi thắng lợi.