Chuyển đổi xăng E10: Cần một “hành động quốc gia” đồng bộ từ chuỗi cung ứng đến tín dụng xanh
| Xăng E10: Chuyển đổi xanh đi cùng quyền lựa chọn của người dân Thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 |
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng lãnh đạo Petrovietnam, lãnh đạo BSR kiểm tra tình hình sản xuất tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất |
Nghịch lý nguồn cung đầu vào giữa vựa nông sản tỷ đô
Chiến lược phát triển xăng sinh học E10 là bước đi được chuẩn bị có hệ thống từ các doanh nghiệp năng lượng trụ cột của quốc gia. Xét trên bình diện công nghệ sản xuất và năng lực phối trộn, các nhà máy lọc hóa dầu trong nước hoàn toàn không hề bị động.
Nhìn nhận lại toàn bộ tiến trình lịch sử năng lượng, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam đúc kết rằng, đợt triển khai xăng E10 lần này thực chất là cuộc chuyển đổi nhiên liệu mang tính bước ngoặt lần thứ 4 của Việt Nam. Các cột mốc quan trọng bắt đầu từ đầu thập niên 90 khi Việt Nam từ bỏ hệ tiêu chuẩn GOST của Liên Xô để đồng bộ với chuẩn phương Tây, tiếp đó là cuộc cách mạng loại bỏ xăng có chì độc hại vào năm 2000 và gần đây nhất là việc thay thế hoàn toàn xăng khoáng A92 bằng xăng sinh học E5... Ông cho rằng, qua mỗi lần chuyển đổi, dư luận xã hội đều dấy lên những lo ngại về sự tương thích của máy móc, tuy nhiên ông Bảo khẳng định, quy luật thị trường sẽ tự giải quyết rào cản này, bởi các hãng sản xuất ô tô bắt buộc phải nâng cấp và đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia mới mong giữ được thị phần.
Từ góc độ của đơn vị trực tiếp sản xuất, ông Mai Tuấn Đạt, Phó tổng giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) chia sẻ, doanh nghiệp đã làm chủ công nghệ sản xuất E5 từ rất lâu theo lộ trình của Chính phủ. Dựa trên nền tảng vững chắc đó, nhà máy đã tiếp tục nâng cấp năng lực công nghệ và hiện tại hoàn toàn đủ khả năng phối trộn xăng E10 với sản lượng lên tới 150.000m3/tháng. Quá trình này diễn ra rất ổn định nhờ sự phối hợp điều hành sát sao từ Bộ Công Thương đến các hệ thống phân phối bán lẻ.
Tuy nhiên, dù nền tảng kỹ thuật đã thông suốt, sự băn khoăn của người tiêu dùng vẫn là một rào cản hiện hữu. Đại diện cộng đồng doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu lớn nhất cả nước, ông Phan Thanh Uy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam đánh giá: công tác truyền thông giải thích chính sách hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, khiến người dân chưa hiểu hết được những lợi ích cốt lõi. Đồng thời, để tránh gây xáo trộn cho nhóm người lao động thu nhập thấp đang mưu sinh bằng phương tiện cũ, ông Uy kiến nghị Chính phủ nên có một lộ trình quá độ, cho phép duy trì bán song song xăng E5 và xăng khoáng thêm một thời gian nhất định.
Một trong những nút thắt sống còn quyết định sự thành bại của chiến lược xăng E10 và khả năng giải ngân tín dụng của các ngân hàng thương mại nằm ở chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào. Nhiên liệu sinh học được kỳ vọng sẽ nâng tầm giá trị nông sản, nhưng thực tế thị trường lại đang phơi bày một nghịch lý kinh tế vô cùng khắc nghiệt.
Hiện tại, năng lực sản xuất cồn sinh học trong nước vẫn còn rất khiêm tốn. Theo một đại diện doanh nghiệp, mặc dù Việt Nam đã đầu tư xây dựng 7 nhà máy ethanol trong giai đoạn 2010 đến 2014, nhưng đến nay mới chỉ khôi phục được 4 nhà máy với công suất loanh quanh mức 20.000 đến 25.000m3/tháng. Con số này mới chỉ giải quyết được khoảng 25% nhu cầu thị trường và ngay cả khi 6 nhà máy chạy tối đa công suất thì cũng chỉ đáp ứng được một nửa tổng lượng cồn cần thiết.
Để lấp đầy công suất đó, ngành cồn đang vấp phải một cuộc cạnh tranh nguyên liệu vô cùng khốc liệt. Ông Nguyễn Hùng Mạnh, Chánh văn phòng Hiệp hội Sắn Việt Nam chỉ ra thực trạng mức giá sắn lát khô (nguyên liệu đầu vào sản xuất cồn) hiện đang neo ở mức rất cao, khiến các nhà máy cồn sẽ đối mặt với nguy cơ thua lỗ nặng nề nếu giá xăng dầu bán ra trên thị trường sụt giảm. Căn nguyên của vấn đề nằm ở việc người nông dân và các đại lý thu mua sẽ ưu tiên bán sắn tươi cho các nhà máy tinh bột, ngành thức ăn chăn nuôi hoặc xuất khẩu để thu về biên độ lợi nhuận hấp dẫn hơn.
Sự thiếu hụt nguyên liệu này đang là hiện thực. Ông Mạnh nhấn mạnh, bản thân ngành sản xuất tinh bột và xuất khẩu của Việt Nam hiện nay đã rơi vào cảnh thiếu hụt nguồn cung. Việc chất thêm gánh nặng nguyên liệu cho các nhà máy nhiên liệu sinh học chắc chắn sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân đối cung - cầu.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, ông kiến nghị cần phải nâng tầm đề án phát triển bền vững ngành sắn lên cấp Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
![]() |
| PVOIL đã chủ động đầu tư, hoàn thành nâng cấp sức chứa ethanol tại các kho đầu nguồn để đảm nhận vai trò đầu mối nhập khẩu và là trung tâm phân phối ethanol cho các cơ sở pha chế khác ở khu vực lân cận |
![]() |
| Xăng E10 dần được thị trường đón nhận |
Vì nền kinh tế sinh học tuần hoàn và tự chủ công nghệ
Nếu bài toán nguyên liệu chỉ giới hạn ở cây sắn, chiến lược nhiên liệu sinh học của Việt Nam khó lòng vươn tới quy mô bền vững và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe để thu hút nguồn vốn tài chính xanh quốc tế. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, một nhà máy ethanol tại Việt Nam thực chất đang phải cạnh tranh trực tiếp với các thị trường khổng lồ.
Ông Đạt phân tích, doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nguồn ethanol của Mỹ, nơi các nhà sản xuất được Chính phủ bảo hộ bằng những chính sách hỗ trợ cực kỳ ưu việt. Để tạo ra lợi thế cạnh tranh về chi phí, ngành năng lượng bắt buộc phải đa dạng hóa nguồn nguyên liệu có tính sẵn sàng cao hơn. Trong đó nhiên liệu hoàn toàn có thể được chiết xuất từ mỡ cá thủy sản, hay các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ. Việc tận dụng hàng triệu tấn rơm rạ thường bị đốt bỏ gây ô nhiễm mỗi vụ mùa không chỉ giải quyết bài toán môi trường, mà còn mở ra một nguồn nguyên liệu dồi dào nếu công nghệ chuyển hóa được đầu tư đúng mức.
Đồng thuận, chuyên gia phát triển bền vững Nguyễn Hồng Quân đề xuất cần đặt chiến lược xăng E10 vào một cấu trúc vĩ mô lớn hơn là nền kinh tế sinh học tuần hoàn. Theo ông Quân, Việt Nam cần nhìn nhận phế phẩm nông nghiệp là lợi thế cạnh tranh chiến lược. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng ở giai đoạn sơ khởi, thị trường này không thể tự lớn lên thông qua quy luật cạnh tranh tự do. Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo bằng cách rót vốn đầu tư công, thiết lập các chính sách trợ giá và bắt buộc áp dụng các công cụ đo lường khoa học như đánh giá vòng đời sản phẩm để minh bạch hóa lợi ích kinh tế, môi trường.
Dưới góc nhìn điều phối vĩ mô, PGS.TS. Trần Đình Thiên lưu ý rằng, hành trình biến rác thải thành tài nguyên là một chặng đường vô cùng gian nan và cần nhiều điều kiện. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều phối ở tầng cao nhất của Nhà nước nhằm phân bổ nguồn lực hợp lý, tránh tình trạng phát triển năng lượng sinh học một cách ồ ạt làm tổn hại đến an ninh lương thực. Để giảm thiểu rủi ro, ông ủng hộ việc trao quyền cho các địa phương như Quảng Ngãi hay Phú Thọ làm những mô hình nòng cốt, qua đó xây dựng các hệ sinh thái khép kín giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người nông dân làm hình mẫu phát triển trước khi nhân rộng ra toàn quốc.
Bệ phóng từ chính sách vĩ mô và vai trò của tài chính xanh
Mọi lý thuyết về nâng cấp công nghệ và chuỗi giá trị tuần hoàn sẽ bị vô hiệu hóa nếu thiếu đi một bệ phóng vững chắc là thể chế vĩ mô.
Ông Nguyễn Ngọc Bảo bùi ngùi nhắc lại hệ lụy nghiêm trọng từ giai đoạn triển khai Quyết định 177 vào năm 2007 khi cho rằng, sự thiếu đồng bộ trong hành động của các bộ, ngành đã khiến hàng loạt nhà máy ethanol thuộc gói đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng rơi vào cảnh thua lỗ, đắp chiếu, thậm chí đẩy nhiều lãnh đạo doanh nghiệp vào vòng lao lý. Sự lúng túng trong điều hành cũng là nguyên nhân khiến Việt Nam lãng phí một nguồn sinh khối khổng lồ, minh chứng qua việc suốt mười mấy năm qua, chúng ta vẫn miệt mài xuất khẩu thô hàng nghìn khối mỡ cá và dầu thải sang Singapore với giá rẻ mạt thay vì giữ lại để tinh chế nhiên liệu sinh học.
Quay trở lại với thực tại, các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu đang bị bủa vây bởi 3 điểm nghẽn chính sách chí mạng. Thứ nhất là sự ngắt quãng của các ưu đãi thuế nhập khẩu và thuế môi trường, thường chỉ được gia hạn từng quý hoặc từng năm, khiến các doanh nghiệp không dám ký các hợp đồng nhập khẩu dài hạn vì sợ rủi ro thay đổi luật chơi. Thứ hai nằm ở hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quy định hàm lượng pha trộn ethanol và oxy sẽ hết hiệu lực vào cuối năm 2026, tạo ra một khoảng trống pháp lý khiến các nhà đầu tư không dám rót vốn mở rộng công nghệ. Thứ ba là rào cản về cơ chế giá, khi hệ thống phân phối đang rất mong mỏi sự ra đời của nghị định mới để được trao quyền tự chủ định giá kinh doanh, bởi không một doanh nghiệp nào có thể cầm cự nếu thị trường vận hành trong tình trạng nắm chắc phần lỗ.
Bên cạnh đó, vai trò của hệ thống tài chính xanh trở nên cấp thiết hơn. Không chỉ dừng lại ở việc cấp vốn tín dụng đơn thuần, kiến trúc tài chính cho ngành nhiên liệu sinh học phải được thiết kế thành một công cụ phân bổ và che chắn rủi ro cho toàn bộ các mắt xích trong chuỗi cung ứng.
| Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh họcViệt Nam: Sứ mệnh giải cứu nền nông nghiệp và cân bằng cán cân thương mại Nhìn nhận về nguyên nhân Việt Nam không áp dụng mô hình bán song song nhiên liệu hóa thạch và nhiên liệu sinh học như một số cường quốc, ông Tuấn lý giải rằng sự thành công của chính sách năng lượng phụ thuộc vào cấu trúc ngân sách của từng quốc gia. Do Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để duy trì mức trợ giá hay chênh lệch thuế quá sâu, việc thiết kế một lộ trình chuyển đổi đồng bộ cho hàng chục triệu phương tiện là giải pháp mang tính toàn diện và phù hợp nhất với thực tiễn. Ông phân tích, chiến lược xăng E10 hướng tới 4 mục tiêu vĩ mô chính. Đầu tiên là tạo đầu ra bền vững cho nông sản. Tiếp theo là khả năng cắt giảm mạnh mẽ các khí thải độc hại, từng bước giành lại sự tự chủ an ninh năng lượng trong bối cảnh đất nước đang phải nhập khẩu lượng lớn xăng dầu thành phẩm. Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò chiến lược của xăng E10 trong việc cân bằng thương mại với Hoa Kỳ. Bằng cách tăng cường nhập khẩu ethanol, Việt Nam có thể thu hẹp mức thặng dư thương mại khổng lồ, qua đó tạo dư địa đàm phán để bảo vệ vững chắc các ngành công nghiệp xuất khẩu tỷ đô như dệt may, đồ gỗ trước áp lực thuế quan. Tuy nhiên, giá trị sâu xa nhất mà nhiên liệu sinh học mang lại chính là cơ hội tái cấu trúc lại toàn bộ nền nông nghiệp. Ông nhấn mạnh về một cuộc cách mạng trong tư duy, đòi hỏi phải quy hoạch lại vùng trồng sắn sát các khu công nghiệp, tăng cường cơ giới hóa và phân bón để nâng cao giá trị. Ông khẳng định triết lý phát triển bền vững là phải để ngành công nghiệp đi trước tạo lực kéo, từ đó chuỗi giá trị nông nghiệp sẽ tự khắc hình thành và phát triển thịnh vượng. ThS. Lưu Ánh Nguyệt, Phó Trưởng ban, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính: Tái định hình tài chính xanh như một công cụ phân bổ rủi ro Đứng từ góc độ quản trị chính sách tài chính, bà Nguyệt nhận định việc đầu tư vào nhiên liệu sinh học là một chuỗi quy trình tiềm ẩn vô vàn rủi ro đan xen. Trong đó, nông dân phải gánh chịu rủi ro về thiên tai và biến đổi khí hậu tác động lên vùng nguyên liệu, các đơn vị thu gom đối mặt với rủi ro đứt gãy logistics và nhà máy thì đối diện với rủi ro công nghệ trong quá trình chuyển đổi máy móc. Bà cũng lưu ý, thị trường tiêu thụ nhiên liệu sinh học không thể tự sinh ra từ nhu cầu tự nhiên mà bắt buộc phải dựa vào các quy định pháp chế của Chính phủ. Dù ghi nhận Việt Nam đã ban hành các khung ưu đãi ở mức rất cao về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu thiết bị cho các dự án xanh, bà đánh giá bấy nhiêu công cụ là chưa đủ để khơi thông dòng vốn. Tham chiếu các mô hình thành công từ Brazil hay việc sử dụng quỹ thuế xuất khẩu dầu cọ của Indonesia, bà Nguyệt đề xuất một tư duy mới về tài chính xanh. Theo đó, các kênh tài chính không chỉ làm nhiệm vụ cấp vốn mà phải đóng vai trò như một cơ chế che chắn rủi ro. Để thu hút được nhà đầu tư, Việt Nam cần đa dạng hóa các công cụ hỗ trợ, từ bảo hiểm nông nghiệp, hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ công nghệ pha trộn, cho đến việc hướng dẫn doanh nghiệp đo lường và giao dịch tín chỉ phát thải carbon trên thị trường quốc tế. |
Tin liên quan
Tin khác
Bất ổn vẫn cao, vì sao vàng lại giảm hơn 2% trong tuần?
Giá vàng tuần tới: Thị trường kỳ vọng trước loạt dữ liệu kinh tế quan trọng
Giá vàng thế giới chưa thoát áp lực, dao động quanh vùng 4.250 USD/oz
Cuộc đua bán lẻ: Lợi thế đang thuộc về ai?
Giá vàng thế giới phục hồi nhẹ sau khi thủng mốc 4.300 USD/oz
Thị trường hàng hóa: MXV-Index xa dần vùng 3.000 điểm
Sức mua tăng trở lại, thị trường thực phẩm - đồ uống phân hóa mạnh
Thị trường hàng hóa: MXV-Index giảm gần 0,7%
Giá vàng thế giới phục hồi nhẹ, áp lực lãi suất vẫn hiện hữu





