07:18 | 09/01/2019

Chứng khoán hưởng lợi từ chính sách tiền tệ

Chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường có mức giảm điểm ít nhất trong năm 2018

TTCK Việt Nam nhìn trên chỉ số VN-Index đang là một trong những thị trường có mức giảm điểm ít nhất. Nếu so sánh về bộ chỉ số của MSCI ở thị trường Cận biên (Frontier Market) và thị trường Mới nổi (Emerging Market) thì mức giảm của Việt Nam rất nhỏ, chỉ giảm khoảng 7,5%. Lý do là vì thị trường được hỗ trợ mạnh mẽ bởi sự ổn định của kinh tế vĩ mô, trong khi NĐT vẫn nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng.

Chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường có mức giảm điểm ít nhất trong năm 2018

Giữ được kết quả này, theo ông Trần Văn Dũng - Chủ tịch UBCKNN nhờ có sự quan tâm chỉ đạo rất sát sao của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Năm 2018 ghi dấu ấn là năm đầu tiên thường trực Chính phủ đã có cuộc họp để nghe riêng về TTCK.

“Sự quan tâm này là rất thiết thực và lần đầu tiên có sự kiện như vậy”, ông Dũng nói và cho biết, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã chỉ đạo rất sát sao việc kết hợp giữa CSTK và CSTT để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. “UBCKNN và Vụ CSTT (NHNN) đã phối hợp rất chặt chẽ trong triển khai các chính sách thị trường dưới yêu cầu của Thống đốc NHNN và Bộ trưởng Bộ Tài chính”, ông Dũng nhấn mạnh.

Đánh giá về sự kết hợp giữa CSTT và CSTK trong ổn định kinh tế vĩ mô, ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ CSTT (NHNN), cho biết, chúng ta đã có một năm thành công về tăng trưởng, GDP tăng cao hơn so với mục tiêu mà Quốc hội đề ra, trong khi lạm phát được kiểm soát ở mức 3,54%, thấp hơn tương đối nhiều so với mục tiêu 4%. Trên nền tảng đó thu NSNN tương đối tốt, vượt dự toán. Đây cũng là năm xuất khẩu kỷ lục với trên 7 tỷ USD xuất siêu… Thành công này có sự đóng góp tích cực của sự phối hợp giữa CSTK và CSTT.

“CSTT không thể hoạt động độc lập, không thể một mình vận hành thị trường mà không có sự tương tác, phối hợp và hỗ trợ của các chính sách vĩ mô khác, đặc biệt là CSTK”, ông Hà nói.

Điểm lại một số sự kiện nổi bật của sự phối hợp này, ông Hà cho biết, các chính sách đã được vận hành tương đối đồng bộ để đảm bảo cho mục tiêu quan trọng nhất là kiểm soát lạm phát dưới 4%. “Một cấu phần của lạm phát chung đó chính là lạm phát cơ bản, trong đó có yếu tố tiền tệ. Chúng tôi đã điều tiết CSTT một cách tiết kiệm nhất có thể về lạm phát cơ bản vì vậy chúng ta thấy lạm phát cơ bản rất thấp, tạo dư địa điều hành giá các mặt hàng khác để đảm bảo lạm phát chung dưới 4%”, ông Hà nói thêm.

Thứ hai, sự kết hợp của hai chính sách đã giúp duy trì tốt thanh khoản của hệ thống liên ngân hàng, đảm bảo lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp. Điều này có ý nghĩa tích cực cho thanh khoản của hệ thống các TCTD và cho lãi suất của thị trường 1 – huy động vốn từ khách hàng không bị áp lực cạnh tranh quá lớn.

“Từ tháng 4 đến tháng 6, rất nhiều ngân hàng đã hạ lãi suất huy động với mức rất sâu thể hiện tính thanh khoản rất tốt của thị trường. Lãi suất thị trường liên ngân hàng duy trì ở mức hợp lý cũng tạo điều kiện rất tốt cho NSNN huy động vốn. Nền tảng thanh khoản tốt và mặt bằng lãi suất thấp cũng đã tạo cho NSNN huy động được trái phiếu với lãi suất thấp và với kỳ hạn dài khi lần đầu tiên chúng ta huy động được kỳ hạn trái phiếu tới 30 năm - dài nhất trong lịch sử kỳ hạn bình quân của TPCP”, ông Hà nhớ lại.

Cũng theo ông Hà, NHNN đã cố gắng điều hành tỷ giá một cách ổn định tương đối để đảm bảo hài hòa lợi ích tất cả các bên. Tỷ giá ổn định đã kích thích được sản xuất kinh doanh của DN, khuyến khích dòng vốn đầu tư, dòng vốn FDI… Kết quả là đến nay dòng vốn khá ổn định và tâm lý thị trường cũng rất tốt khi chúng ta vững tin và chắc tay trong điều hành, phối hợp các chính sách để ổn định các thị trường.

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, năm 2019, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức và chúng ta sẽ phải quan sát rất kỹ chiến tranh thương mại, chính sách thắt chặt tiền tệ của ngân hàng trung ương toàn cầu và một số yếu tố khó lường khác về thị trường hàng hóa cũng như TTCK thế giới vì nó có thể gây áp lực lên thị trường tài chính, tiền tệ Việt Nam. Về phía NHNN, CSTT sẽ được điều hành chủ động, linh hoạt và có sự phối hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách khác để tiếp tục đạt mục tiêu ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo sự vận hành ổn định và đồng bộ của thị trường tiền tệ cũng như các thị trường khác có liên quan.

Ông Hà cũng đánh giá cao việc Chính phủ đã ban hành Nghị định 163/2018/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và cho biết, NHNN rất kỳ vọng thị trường vốn nói chung trong đó có thị trường TPDN phát triển để cùng chia lửa với hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế nước ta đang phụ thuộc tương đối nhiều vào tín dụng ngân hàng. Theo cảnh báo của các tổ chức quốc tế, hiện tại tỷ lệ tín dụng trên GDP đã vào khoảng 130% - mức khá cao nên NHNN rất mong muốn các động lực khác của nền kinh tế như thị trường vốn mà trực tiếp là TPDN phát triển mạnh mẽ hơn để tạo nguồn vốn trung dài hạn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

“Hy vọng khi thị trường TPDN phát triển mạnh mẽ sẽ tạo sự cân đối giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn trong việc hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển. Phía NHNN sẽ khẩn trương hướng dẫn các TCTD phát hành trái phiếu của mình”, ông Hà cho biết thêm.

CSTT không thể hoạt động độc lập, không thể một mình vận hành thị trường mà không có sự tương tác, phối hợp và hỗ trợ của các chính sách vĩ mô khác, đặc biệt là CSTK

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.650
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.650
36.780
Vàng SJC 5c
36.650
36.800
Vàng nhẫn 9999
36.640
37.040
Vàng nữ trang 9999
36.230
36.830