17:04 | 02/12/2019

Hạ giá mua vào USD: Tín hiệu về chính sách linh hoạt

Theo nhận định trong báo cáo vừa đưa ra của Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân, thuộc Công ty SSI, việc Ngân hàng Nhà nước hạ giá mua vào USD sẽ giảm lực hút ngoại tệ, giúp nguồn cung ngoại tệ ở lại thị trường nhiều hơn và đây là điều cần thiết trong bối cảnh áp lực tỷ giá thông thường sẽ tăng vào cuối năm.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 25-29/11
Tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ từ 28/11/2019 đến 4/12/2019

Tỷ giá USD/VND ổn định

Ngân hàng Nhà nước vừa giảm giá mua vào 25 đồng/USD, xuống 23.175 đồng/USD vào ngày 29/11/2019, sau 11 tháng liền giữ ở mức 23.200 đồng/USD.

Ngoại trừ 2 tháng (5-6/2019) tỷ giá bật tăng do áp lực leo thang chiến tranh thương mại, hầu như tỳ giá mua vào của các ngân hàng thương mại luôn ở mức ngang bằng hoặc thấp hơn tỷ giá mua vào của Ngân hàng Nhà nước. Nhờ vậy, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào được lượng lớn ngoại tệ.

“Thông thường, áp lực tỷ giá sẽ tăng về cuối năm. Việc Ngân hàng Nhà nước hạ giá mua vào USD sẽ giảm lực hút ngoại tệ, giúp nguồn cung ngoại tệ ở lại thị trường nhiều hơn. Động thái này tạo tín hiệu về chính sách quản lý linh hoạt, có tăng, có giảm không chỉ cho các thành viên thị trường mà cho cả các chính phủ nước ngoài khi đánh giá về chủ trương điều hành tỷ giá của Việt nam”, báo cáo nhận định.

Trong tuần qua, tỷ giá giao dịch USD/VND vẫn giữ nguyên ở mức 23.110/23.260 đồng/USD tại các ngân hàng nhưng tăng thêm 30 đồng/USD trên thị trường tự do, lên mức 23.240/23.260 đồng/USD.

Tỷ giá trung tâm tăng thêm 11 đồng/USD, lên mức 23.162 đồng/USD - tăng 1,48% so với cuối năm 2018, vẫn cách khá xa mục tiêu 2% trong năm 2019.

Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD trên liên ngân hàng ở mức cao (hơn 2%/năm với kỳ hạn qua đêm) và diễn biến quốc tế chưa có nhiều đột biến nên tỷ giá USD/VND sẽ vẫn ổn định trong vùng 23.100-23.200 đồng/USD, theo SSI.

Hãm đà lãi suất liên ngân hàng

Tuần vừa qua có 13 nghìn tỷ đồng tín phiếu đến hạn và Ngân hàng Nhà nước ngừng phát hành tín phiếu mới, đồng thời chuyển sang mua kỳ hạn (kênh OMO) sau gần 3 tháng kênh này không hoạt động.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước mua kỳ hạn 49,2 nghìn tỷ đồng, lãi suất OMO cũng giảm từ 4,5% xuống 4%/năm, đây là bước giảm lớn nhất (50 điểm cơ bản) trong 5 năm trở lại đây và là lần giảm thứ 2 trong năm nay.

Tính chung lại, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng tới 62,2 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở, lượng tín phiếu lưu hành ở mức 0 trong khi lượng OMO lưu hành là 49,2 nghìn tỷ đồng, đánh dấu bước chuyển từ hút ròng 8 tháng liên tục sang bơm ròng.

Động thái này của Ngân hàng Nhà nước đã giải tỏa bớt căng thẳng thanh khoản của các ngân hàng. Lãi suất trên liên ngân hàng được giữ ở mức 3,93%/năm với kỳ hạn qua đêm và 3,99% với kỳ hạn 1 tuần.

Thông thường, lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng sẽ dao động trong vùng từ lãi suất tín phiếu đến lãi suất OMO, hiện tại là 2,25-4,0%/năm. Trong tháng cao điểm cuối năm, nhiều khả năng lãi suất liên ngân hàng sẽ dao động ở ngưỡng cao, tức là quanh 4%/năm, theo SSI.

Trên thị trường 1, sau bước giảm mạnh ở các kỳ hạn dưới 6 tháng từ mức trần lãi suất huy động cũ là 5,5% xuống mức trần mới là 5,0%/năm vào tuần trước, các ngân hàng thương mại đã có bước điểu chỉnh giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài hơn, trong đó giảm nhiều nhất là ở nhóm các ngân hàng thương mại có thị phần nhỏ (giảm 20-30 điểm cơ bản), thu hẹp mức chênh lệch lãi suất với nhóm các ngân hàng thương mại lớn.

Lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng dao động trong khoảng 4,1-5%/năm, từ 6 đến dưới 12 tháng trong khoảng 5,5-7,5%/năm và từ 12-13 tháng là 6,4-7,9%/năm.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết 9/2019, mặc dù tăng trưởng tín dụng (9,4% so với cuối năm trước) thấp hơn so với cùng kỳ 2018 (10,33% so với cuối năm trước) nhưng tổng phương tiện thanh toán (cung tiền M2) đã đạt 10,08 triệu tỷ đồng, tăng 9,47% so với cuối năm trước, cao hơn khá nhiều mức tăng 9,04% so với cuối năm trước của cùng kỳ 2018.

Với định hướng giảm lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước và cung tiền vẫn dồi dào từ việc mua dự trữ ngoại hối, lãi suất trên thị trường 1 dù khó có thể giảm vào thời điểm cuối năm 2019 nhưng việc giảm trong năm 2020 với cả lãi suất huy động lẫn cho vay là khả thi.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590