15:13 | 19/08/2019

Lợi nhuận trước thuế Agribank 7 tháng đạt 8.200 tỷ đồng

Agribank vừa tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh những tháng cuối năm 2019. Kết thúc 7 tháng đầu năm 2019, Agribank hoạt động kinh doanh hiệu quả, lợi nhuận trước thuế đạt 8.200 tỷ đồng. Tín dụng chủ yếu được tập trung cho lĩnh vực “tam nông”. 

Báo cáo Hội nghị kết quả hoạt động 7 tháng đầu năm, đồng chí Tiết Văn Thành - Thành viên HĐTV, Tổng giám đốc Agribank nêu rõ: Hoạt động trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô diễn biến có phần thuận lợi và thách thức đan xen, các chỉ số kinh tế duy trì ổn định, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, ngay từ đầu năm 2019, Agribank nghiêm túc, tiên phong thực thi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.

Ảnh minh họa

Agribank tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn, sản phẩm dịch vụ.

Đến 31/7/2019, tổng tài sản Agribank đạt hơn 1,3 triệu tỷ đồng, tổng nguồn vốn huy động VND đạt hơn 1,2 triệu tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt hơn 1 triệu tỷ đồng. Dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm 70% dư nợ nền kinh tế (chiếm trên 50% thị phần trong nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam). Tỷ lệ nợ xấu theo Thông tư 02 là 1,49%, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái (1,96%), giảm 0,02% so với đầu năm. Các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh cơ bản đạt lộ trình kế hoạch, tiếp tục tạo nền tảng quan trọng để Agribank thực hiện thành công phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016- 2020 tiến tới cổ phần hóa.

Agribank chủ lực triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Riêng cho vay xây dựng nông thôn mới, Agribank đã triển khai đến 100% số xã trên cả nước.

Từ đầu năm 2019, Agribank đã triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các tổ chức và người dân tiếp cận vốn; đưa ra giải pháp tín dụng phù hợp đáp ứng nhu cầu vốn hợp pháp của người dân. Trong bối cảnh ngành nông nghiệp những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp, Agribank đã kịp thời cung ứng vốn cho vay hỗ trợ thu mua lúa gạo vụ Đông Xuân, doanh số đạt hơn 7.000 tỷ đồng; hỗ trợ cho vay ngành chăn nuôi lợn với dư nợ đạt gần 20.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 40% dư nợ toàn ngành ngân hàng), góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân trong ngành lúa gạo, chăn nuôi lợn.

Agribank đã chủ động 2 lần giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên và các chương trình tín dụng của Chính phủ. Cùng với triển khai hiệu quả điểm giao dịch lưu động và cho vay thông qua hơn 61.000 tổ nhóm, Agribank tiếp tục ưu tiên dành nguốn vốn tối thiểu 5.000 tỷ đồng trong cơ cấu tín dụng để cho vay đáp ứng các mục đích tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình trong thời gian ngắn hạn, rút ngắn thời gian thẩm định, xét duyệt cho vay, góp phần đầy lùi nạn tín dụng đen. Agribank áp dụng phương thức cho vay và giải ngân linh hoạt, áp dụng lãi suất cho vay hợp lý, ưu tiên thực hiện xét duyệt và giải ngân trong ngày. Tính đến 31/7/2019, doanh số giải ngân chương trình này đạt trên 1.400 tỷ đồng.

Không chỉ đi đầu trên mặt trận vốn cho tam nông, Agribank tích cực góp phần phát triển thị trường thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam thông qua chú trọng phát triển, cung cấp sản phẩm dịch vụ cho mọi đối tượng khách hàng, nhất là người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Agribank đã triển khai xây dựng phương án khen thưởng, khuyến khích cán bộ, chi nhánh thực hiện tốt phát triển SPDV, rà soát chuẩn hóa quy trình, đơn giản thủ tục giao dịch, tăng cường tiện ích, nâng cao chất lượng dịch vụ E Banking; triển khai thu hộ 18 đơn vị, mở rộng hợp tác Fintech triển khai dịch vụ thanh toán ví điện tử Moca, ZaloPay,..; mở rộng sản phẩm tiền gửi trực tuyến tại ATM đa chức năng, nghiệp vụ phát hành thẻ chip không tiếp xúc (Contactless) thương hiệu Visa, Mastercard; đề xuất tiếp tục triển khai điểm giao dịch xe lưu động giai đoạn 2,…

Với nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh doanh đã mang lại cho Agribank kết quả lợi nhuận ấn tượng. Tính đến 31/7/2019, lợi nhuận trước thuế đạt 8.200 tỷ đồng, tăng 127% so với cùng kỳ năm trước, đạt 75% kế hoạch năm. Lũy kế 7 tháng đầu năm, doanh thu phí dịch vụ đạt gần 4.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bên cạnh việc xử lý nợ xấu, chất lượng tín dụng cũng được cải thiện bằng các giải pháp xử lý được triển khai đồng bộ, kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, đưa dòng vốn quay vòng và phát huy tác dụng đầu tư phát triển kinh tế.

Bên cạnh nỗ lực thực hiện hiệu quả kinh doanh, Agribank tích cực phát huy trách nhiệm đối với cộng đồng thông qua tham gia, triển khai nhiều chương trình an sinh xã hội, từ thiện, ưu tiên cho ưu tiên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, giáo dục, y tế, đường giao thông nông thôn, hỗ trợ cộng đồng... 

Những đóng góp tích cực của Agribank giúp ngân hàng được vinh danh trong bảng xếp hạng TOP10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2019 (theo công bố của VN Report), đồng thời đứng vị trí thứ Nhất trong các NHTM Việt Nam trong bảng xếp hạng TOP500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2019. Agribank được tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s công bố mức xếp hạng của Agribank là Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất cho các NHTM ở Việt Nam.

Tại Hội nghị, Tổng giám đốc Agribank Tiết Văn Thành cũng chia sẻ về những khó khăn hiện nay của Agribank trong việc bổ sung vốn điều lệ; Cho vay nông nghiệp, nông thôn thường xuyên phải đối mặt với rủi ro thiên tai bất khả kháng, chi phí hoạt động lớn và rủi ro cao trong khi lãi suất cho vay ưu đãi thấp. Agribank phải cạnh tranh bình đẳng với các NHTM khác trong huy động vốn đáp ứng nhu cầu cho vay…

Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Trịnh Ngọc Khánh quán triệt trên toàn hệ thống phát huy tinh thần đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả, tăng tốc và bứt phá, tiếp tục đẩy mạnh công tác  nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung công tác đào tạo chất lượng cao và liên tục cho đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống, tạo động lực cho người lao động làm việc trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành; kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo kế hoạch năm 2019 và tuân thủ quy định về các tỷ lệ an toàn hoạt động, gắn với chuyển dịch cơ cấu tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, thống nhất các giải pháp nhằm quyết tâm hoàn thành mọi chỉ tiêu đề ra từ đầu năm, đó là: lợi nhuận trước thuế tối thiểu đạt 11.000 tỷ đồng, tăng tổng tài sản tăng tối thiểu 10%, nguồn vốn tăng 13%, dư nợ cho vay nền kinh tế tăng tối đa 12%. Tiếp tục thực hiện các công tác cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu, đảm bảo lộ trình cổ phần hóa theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và NHNN.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850