18:38 | 17/11/2019

Việt Nam đã tự sản xuất điện thoại thông minh, nhưng tại sao vẫn chưa bán được?

Việt Nam đang tiến vào chuỗi giá trị hàng công nghệ, điện tử. Samsung đã đầu tư 17,3 tỷ USD vào các nhà máy đóng tại Việt Nam. Các trường học chú trọng vào các môn học công nghệ. Sinh viên ra trường, làm việc tại các công ty công nghệ nước ngoài, họ đã hiểu biết hơn và dần có thể tự làm chủ công nghệ để làm ra điện thoại.

Các công ty Việt Nam đã cho ra mắt hàng loạt các mẫu điện thoại, hầu hết là rẻ hơn các hãng ngoại, trên nền tảng Android. OPhone và BPhone là những mẫu tiên phong, còn bây giờ tập đoàn đa ngành Vingroup đang bán ra loạt điện thoại Vsmart với giá khoảng 100 đô la.

Tuy vậy, hầu như ít người Việt Nam mua điện thoại thông minh nội địa, bởi họ “sính” ngoại và dễ nổi bật hơn nếu dùng hàng ngoại.

Các thương hiệu nước ngoài có vị thế cao hơn hàng nội địa, Maxfield Brown, cố vấn kinh doanh của Dezan Shira & Associates ở thành phố Hồ Chí Minh, cho biết.

“Quỹ đạo tiêu dùng hàng điện tử ở Việt Nam đang tập trung vào các thương hiệu quốc tế. Tôi nghĩ, xu hướng này sẽ tiếp tục bởi người tiêu dùng ngày càng chi nhiều hơn cho các mặt hàng này”, Maxfield nhận định. Trung bình tiền lương ở Việt Nam tăng lên, nhưng vẫn ở mức thấp – 171 USD/tháng.


Bộ tứ điện thoại Vsmart

Lịch sử điện thoại “made in Vietnam”

Công ty công nghệ BKAV phát triển chiếc điện thoại đầu tiên vào 2017. Mẫu Bphone và Bphone 2 bị đánh giá chất lượng kém, báo cáo của VietnamNet Bridge chỉ ra. Họ bán tổng cộng được 12.000 chiếc. Tổng giám đốc Nguyễn Tử Quảng nhận thức được thất bại nhưng chỉ ra rằng, ông hướng đến mục tiêu trở thành “Apple hoặc Samsung của Việt Nam”.

Bphone đời thứ 3 ra mắt vào năm ngoái. Nó có giá 314 đô la Mỹ và được nhiều người tán dương hơn bởi cảm ứng nhanh và có khả năng chống nước, một báo cáo phát hành vào tháng 10/2019 chỉ ra.

Tuy vậy, các cửa hàng đồ điện tử ở trung tâm TP. Hồ Chí Minh lại không bán chiếc Bphone nào. Các cửa hàng cũng cho hay, họ cũng chẳng biết người mua có thể tìm được Bphone ở đâu.

Các công ty Việt Nam như Masstel và Mobiistar cũng đã cho ra mắt điện thoại, nhưng những Oppo, Samsung và Sony chiếm chỗ nhiều hơn ở các cửa hàng điện tử trong trung tâm thành phố.

Điện thoại Việt Nam chiếm không quá 1% trên tổng thị trường Việt Nam trong quý III/2019, Thanh Vo, chuyên gia phân tích thị trường với Công ty nghiên cứu hàng điện tử IDC, cho biết. Samsung chiếm 42,8%, còn Oppo là 23,2%, Xiaomi chiếm 6%.

VinSmart, thương hiệu hàng điện tử của Vingroup quyết thay đổi con số trên. Kể từ năm 2018, Vsmart bán ra gần 300.000 điện thoại tại 5.200 cửa hàng. Một số lượng điện thoại Vsmart được bán tại thị trường nước ngoài.

Đại diện của Vingroup cho biết, nhà máy Vsmart có công suất 25 triệu máy/ 1 năm. Hiện tại, Vingroup đang xây dựng nhà máy thứ 2, có công suất lên tới 100 triệu máy.

Vsmart từng ký với thương hiệu BQ của Tây Ban Nha về việc bán bốn mẫu điện thoại dưới thương hiệu Vsmart, Vietnam Invesment Review cho biết.

Theo đại diện của Vingroup, “Chất lượng vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Vsmart đi theo chiến lược đa dạng hoá sản phẩm với nhiều phân khúc thị trường khác nhau, tập trung vào chất lượng vượt trội các đối thủ cùng phân khúc”.

Vingroup, đứng đầu là chủ tịch Phạm Nhật Vượng, có doanh thu 122 nghìn tỷ đồng vào năm 2018 và 6,2 nghìn tỷ đồng lợi nhuận.

Mike Lynch, Giám đốc điều hành Công ty chứng khoán SSI Institutional Brokerage, cho biết: “Vingroup là một tập đoàn rất thú vị. Nếu họ muốn làm gì, thì họ sẽ làm bằng được. Dĩ nhiên tôi phải mua một trong những chiếc điện thoại của họ”.

Những nhà phân tích cho rằng, thị trường Việt Nam khá giống Trung Quốc cách đây 2 thập kỷ. Người Trung Quốc cũng “sính” ngoại, từ đồ ăn, rượu cho đến hàng điện tử.

Brown cho biết, nhưng sau đó họ dịch chuyển về tiêu dùng hàng nội địa. “Người Trung Quốc bây giờ vẫn mua hàng ngoại nếu chất lượng tốt hơn và không phải hàng giả mạo. “Tạp chí Practical Ecommerce báo cáo. Nhưng, nếu chất lượng chỉ tương đương, người tiêu dùng sẽ chọn ngay hàng nội địa. Họ muốn thể hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Các hãng Huawei, Oppo, Xiaomi là những thương hiệu bán rất chạy ở thị trường Trung Quốc.

Brown cho biết thêm, “Tôi có thể thấy điểm tương đồng đang diễn ra ở Việt Nam. Tôi kì vọng, người Việt sẽ bắt đầu xu hướng tiêu thụ hàng nội địa với tinh thần dân tộc lên cao”.

Các thương hiệu điện thoại ngoại có giá rẻ đang thống trị thị trường Việt Nam. Thanh Vo cho biết, “Người tiêu dùng thích giá rẻ. Nếu sản phẩm bán ra rẻ, lại có chất lượng tốt, dĩ nhiên họ sẽ mua. Họ đang tìm kiếm những sản phẩm có pin tốt, camera chụp ảnh đẹp, hệ điều hành nhanh”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420