11:00 | 07/10/2019

Xe ô tô ngoại nhập ồ ạt vào Việt Nam

Theo số liệu vừa được Tổng cục Hải quan công bố, trong tháng 9/2019 số lượng ô tô các loại được nhập khẩu về Việt Nam tăng 38,1% về lượng và tăng 24,4% về trị giá so với tháng 8, ước đạt 13.000 chiếc, trị giá 260 triệu USD.

Ước tính trong 9 tháng, ô tô các loại được nhập khẩu về Việt Nam tăng 167,8% về lượng và tăng 157% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, đạt 109.000 chiếc, trị giá đạt 2,4 tỷ USD. Cũng theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan, lượng ô tô nhập khẩu vào Việt Nam trong 9 tháng năm 2019 chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính là từ Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, chiếm tới khoảng 97% tổng lượng xe nhập khẩu. Dự kiến, trong năm 2019, giá trị xe nhập khẩu có thể tăng lên mức kỷ lục, khoảng 3,4 tỷ USD.

Cần phải có những chính sách căn cơ, tạo hành lang thúc đẩy nền công nghiệp sản xuất xe ô tô trong nước

Thực tế, theo quan sát và tìm hiểu của phóng viên Thời báo Ngân hàng, ngay khi thuế suất nhập khẩu ô tô từ các nước Asean giảm xuống còn 0%, nhiều hãng ô tô tại Việt Nam đã thu hẹp sản xuất, lắp ráp, đẩy mạnh nhập khẩu để chạy theo mục tiêu lợi nhuận. Tính đến nay, lượng xe nhập khẩu đã tăng 5 - 6 lần, chiếm đến hơn 40% thị phần tại thị trường Việt Nam và ngày càng có xu hướng gia tăng, áp đảo.

Đơn cử như trường hợp của Toytota Việt Nam, nếu như vài năm trước đây, lượng xe bán ra trên thị trường được sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam chiếm đến 74%, nhưng trong những tháng đầu năm 2019, hãng xe này đã gia tăng mạnh mẽ lượng xe nhập khẩu để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng trong nước, đưa doanh số xe nhập khẩu bán ra trên thị trường chiếm 36%, còn lại 64% là xe lắp ráp trong nước. Có thể dẫn ra đây dòng xe Camry của Toyota, trước đó cũng được sản xuất tại Việt Nam, nhưng kể từ đầu năm 2019, mẫu xe này được nhập hoàn toàn từ Thái Lan với nhiều tính năng vượt trội, giá cả cạnh tranh hơn hẳn so với nhiều dòng xe có cùng phân khúc được sản xuất trong nước.

Tương tự, Honda Việt Nam trước đó cũng chủ yếu bán các dòng xe nội với tỷ lệ lên đến 87%, nhưng trong xu hướng giá xe nhập khẩu rẻ khi thuế suất không còn là rào cản, hãng này đã thu hẹp hoạt động sản xuất trong nước xuống còn 30% để nhập về nhiều dòng xe đáp ứng thị hiếu khách hàng. Như đối với mẫu xe Honda CRV, hãng ô tô Nhật Bản này đã ngưng hẳn sản xuất trong nước để nhập khẩu từ Thái Lan bán ra tại thị trường Việt Nam. Đến nay, Honda Việt Nam tiếp tục nhập thêm một số dòng xe Jazz, HRB, Bio... làm phong phú thêm thị trường xe ô tô nhập khẩu. Thậm chí, một số hãng xe như Suzuki, nếu như trước đó mỗi năm còn xuất xưởng 500 – 600 chiếc tại Việt Nam, thì nay cũng đã chuyển hẳn sang bán dòng xe nhập khẩu.

Có một điều không thể phủ nhận là xe nhập khẩu không chỉ có chất lượng tốt, trang bị nhiều tính năng vượt trội mà giá cả cũng rất cạnh tranh. Điều này có thể thấy rõ qua số liệu báo cáo hàng tháng của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (Vama), tính đến hết tháng 8/2019, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước đạt 119.744 chiếc, giảm 14% trong khi xe nhập khẩu đạt 82.923 chiếc, tăng 178% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Cục Công nghiệp, Bộ Công thương, với xu hướng hội nhập, sắp tới khi các rào cản thuế quan từ những nước tham gia CPTPP và EVFTA với Việt Nam như Nhật Bản, Canada, Anh, Pháp, Đức... dần được gỡ bỏ trong vòng 7 – 10 năm tới, thị trường ô tô sẽ thực sự bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt. Một số chuyên gia nhận định, một điều dễ nhận thấy là giá thành sản xuất xe trong nước hiện vẫn còn cao hơn so với một số nước trong khu vực.

Chính vì vậy, để xe sản xuất trong nước có thể cạnh tranh với xe nhập khẩu một cách sòng phẳng, ngoài việc nâng cao chất lượng, giảm giá thành, cần phải có những chính sách căn cơ, tạo hành lang thúc đẩy nền công nghiệp sản xuất xe ô tô trong nước như phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, sửa đổi một số chính sách thuế nhập khẩu linh kiện, nhất là việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với phần giá trị tạo ra trong nước có thể nên miễn giảm nhằm tạo động lực cho nhà sản xuất xe nội.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740