banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 13/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.633 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.402/26.864 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Đề xuất giới hạn khoản cho vay ra nước ngoài không quá 200 triệu USD mỗi năm

Hồng Sơn
Hồng Sơn  - 
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục xem xét, chấp thuận cho tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú. Dự thảo được xây dựng nhằm hướng dẫn thực hiện quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối về việc tổ chức kinh tế thực hiện cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
aa

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc xây dựng Quyết định nhằm tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức kinh tế có nhu cầu thực hiện hoạt động cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú nắm rõ điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục xin chấp thuận; đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong quá trình thẩm định, xử lý hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.

Dự thảo gồm 5 chương, 22 điều, quy định về điều kiện cho vay, bảo lãnh; thẩm quyền xem xét, chấp thuận; trình tự, thủ tục thực hiện; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế có liên quan.

Điều kiện về cho vay, bảo lãnh

Dự thảo quy định tổ chức kinh tế được xem xét cho vay hoặc bảo lãnh cho người không cư trú khi đáp ứng đồng thời các điều kiện liên quan đến đối tượng vay vốn, năng lực tài chính của bên cho vay và điều kiện của khoản vay, khoản bảo lãnh.

Về đối tượng được vay hoặc được bảo lãnh, dự thảo quy định tổ chức kinh tế chỉ được thực hiện giao dịch đối với công ty mẹ hoặc các công ty thành viên ở nước ngoài có cùng công ty mẹ với bên cho vay, bên bảo lãnh. Ngoài ra, đối tượng được vay hoặc được bảo lãnh còn bao gồm Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức nước ngoài được Chính phủ nước ngoài bảo lãnh theo các thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước.

Đề xuất giới hạn khoản cho vay ra nước ngoài không quá 200 triệu USD mỗi năm
Ảnh minh họa

Đối với tổ chức kinh tế thực hiện cho vay hoặc bảo lãnh, dự thảo đưa ra một số điều kiện về thời gian hoạt động và tình hình tài chính. Theo đó, doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và có thời gian hoạt động tối thiểu 2 năm đối với trường hợp cho vay, bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài. Đối với các khoản cho vay, bảo lãnh không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, thời gian hoạt động tối thiểu là 5 năm.

Trong hai năm liền kề trước thời điểm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận, doanh nghiệp phải có kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Tại thời điểm lập phương án cho vay hoặc bảo lãnh, tổ chức kinh tế không được có nợ xấu với hệ thống ngân hàng và không có nợ thuế với ngân sách nhà nước.

Về các chỉ tiêu tài chính, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp duy trì tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu theo quy định hiện hành. Đối với doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ phải trả tối đa không quá 3 lần vốn chủ sở hữu được ghi nhận trên báo cáo tài chính hợp nhất quý hoặc năm gần nhất.

Ngoài các điều kiện đối với chủ thể thực hiện giao dịch, dự thảo cũng quy định các yêu cầu đối với khoản cho vay và khoản bảo lãnh.

Theo đó, tổ chức kinh tế không được sử dụng vốn vay nước ngoài để cho vay ra nước ngoài hoặc bảo lãnh cho người không cư trú. Trường hợp sử dụng vốn vay từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ quy định hiện hành về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.

Đối với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, nguồn vốn thực hiện phải là nguồn ngoại tệ tự có phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được phép thu ngoại tệ theo quy định. Doanh nghiệp không được sử dụng nguồn ngoại tệ mua bằng đồng Việt Nam từ các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thực hiện hoạt động này.

Dự thảo cũng quy định cụ thể về giới hạn cho vay và bảo lãnh. Đối với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, số tiền cho vay hoặc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức cho vay, hạn mức bảo lãnh và phù hợp với quy mô vốn đầu tư được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc thông tin dự án được khai báo theo quy định.

Đối với hoạt động cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, quy mô khoản cho vay tối đa được quy định là 200 triệu USD mỗi năm hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương.

Về mục đích sử dụng vốn, khoản vay hoặc khoản bảo lãnh phải phục vụ thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài đã được cấp phép hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh phù hợp với phạm vi hoạt động được phép của bên đi vay, bên được bảo lãnh tại nước sở tại.

Dự thảo cũng yêu cầu tổ chức kinh tế xây dựng phương án cho vay, bảo lãnh với các nội dung như thông tin bên vay, bên được bảo lãnh; hạn mức cho vay, bảo lãnh; mục đích sử dụng vốn; phương án cân đối nguồn ngoại tệ; kế hoạch giải ngân, thu hồi nợ; đánh giá tính khả thi của dự án; khả năng tài chính của bên đi vay, bên được bảo lãnh và các biện pháp phòng ngừa rủi ro.

Quy trình xem xét đối với các khoản vay, bảo lãnh quy mô lớn

Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là quy định cụ thể các trường hợp phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện.

Theo dự thảo, Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét cấp văn bản chấp thuận đối với các khoản cho vay gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài có vốn đầu tư từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt.

Đối với các khoản cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, trường hợp giá trị khoản vay từ 1.600 tỷ đồng trở lên cũng thuộc thẩm quyền xem xét của Thủ tướng Chính phủ.

Các khoản bảo lãnh có giá trị cam kết bảo lãnh từ 1.600 tỷ đồng trở lên cũng phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận.

Ngoài ra, các khoản cho vay hoặc bảo lãnh đối với Chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài được Chính phủ nước ngoài bảo lãnh theo thỏa thuận giữa các Chính phủ cũng thuộc diện xem xét của Thủ tướng Chính phủ trong các trường hợp được quy định tại dự thảo.

Dự thảo đồng thời quy định việc điều chỉnh các khoản vay hoặc bảo lãnh đã được chấp thuận. Trong đó, trường hợp tăng giá trị khoản vay hoặc khoản bảo lãnh trên 10% so với giá trị đã được chấp thuận hoặc thay đổi bên cho vay, bên bảo lãnh thì phải thực hiện thủ tục xin điều chỉnh văn bản chấp thuận.

Đối với các trường hợp không thuộc diện phải xin chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức kinh tế được thực hiện khoản vay hoặc khoản bảo lãnh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và thực hiện đăng ký, đăng ký thay đổi với Ngân hàng Nhà nước theo quy định về quản lý ngoại hối…

Hồng Sơn

Tin liên quan

Tin khác

Quy định mới: Trường học được và không được thu khoản nào?

Quy định mới: Trường học được và không được thu khoản nào?

Hai thông tư mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, phân định rõ hoạt động giáo dục không thu tiền với chương trình theo nhu cầu; đồng thời đặt giới hạn đối với việc vận động hỗ trợ thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh. Điểm đáng chú ý không chỉ là khoản nào được thu, mà còn là quyền từ chối của phụ huynh phải được tôn trọng trong thực tế.
Đề xuất quy định mới về đăng ký, sử dụng mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách

Đề xuất quy định mới về đăng ký, sử dụng mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách

Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn đăng ký, cấp và sử dụng mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách.
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 3-9/10

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 3-9/10

Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; Tiêu chí, điều kiện thành lập khu thương mại tự do... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 3-9/10/2026.
Triển khai chính sách đặc thù để gỡ vướng các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027

Triển khai chính sách đặc thù để gỡ vướng các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị quyết số 321/NQ-CP ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 41/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035

Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035”.
Điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù để gỡ vướng cho các dự án tồn đọng

Điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù để gỡ vướng cho các dự án tồn đọng

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng.
Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực phục vụ phát triển thị trường bán lẻ

Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực phục vụ phát triển thị trường bán lẻ

Quyết định số 1922/QĐ-TTg ngày 4/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về cấp tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; Bộ Tài chính được bổ sung nhiệm vụ chủ trì triển khai chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Quy định về an toàn, quản lý rủi ro đối với việc ứng dụng AI trong ngân hàng

Quy định về an toàn, quản lý rủi ro đối với việc ứng dụng AI trong ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Thông tư số 53/2026/TT-NHNN quy định về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng. Đáng chú ý, quy định mới đặt ra hàng loạt yêu cầu liên quan trực tiếp đến quyền lợi khách hàng, từ việc phải thông báo khi khách hàng đang tương tác với AI, giải thích các quyết định tự động, cho phép con người rà soát khi có khiếu nại, đến kiểm soát chặt các giao dịch thanh toán và quyết định cấp tín dụng do AI thực hiện.
Từ 15/11, áp dụng quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm

Từ 15/11, áp dụng quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 63 ngày 30/9/2026 quy định về Cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.
Từ 5/10, áp dụng quy trình mới xử lý tin giả, tin sai sự thật

Từ 5/10, áp dụng quy trình mới xử lý tin giả, tin sai sự thật

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật. Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, thiết lập tương đối đầy đủ quy trình từ phát hiện, kiểm chứng, gắn nhãn đến công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ và xử lý tin giả, tin sai sự thật.