Giải nút thắt thị trường vốn và mua bán nợ

13:39 | 14/10/2015

Việc phát hành trái phiếu quốc tế có tác động làm tăng cung ngoại tệ sẽ góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, giảm áp lực lên tỷ giá hối đoái và ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo phản ánh Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam, việc chỉ cho phép phát hành Trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn từ 5 năm trở lên theo Nghị quyết số 78/2014/QH13 có tác động làm gia tăng rủi ro thanh khoản của các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, dẫn đến sản phẩm trên thị trường TPCP không đa dạng, tạo thách thức cho hoạt động huy động vốn của ngân sách Nhà nước.

Ảnh minh họa

Các số liệu gần đây cũng cho thấy, trong 9 tháng đầu năm 2015, tổng giá trị TPCP được phát hành thành công trên thị trường sơ cấp chỉ đạt khoảng 127.473 tỷ đồng, đạt 51% kế hoạch phát hành cả năm. Nếu tiếp tục thực hiện phát hành TPCP chỉ từ 5 năm trở lên thì từ nay đến cuối năm 2015 sẽ không huy động đủ lượng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu chi thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Quốc hội.

Đây cũng là lý do Chính phủ đề xuất đa dạng hóa kỳ hạn phát hành TPCP tại thị trường trong nước. Theo đó, Chính phủ trình Quốc hội cho phép phát hành TPCP với tất cả các kỳ hạn theo quy định tại Luật Quản lý nợ công và các văn bản hướng dẫn. Trên cơ sở chủ trương được Quốc hội phê duyệt, trong điều hành Chính phủ sẽ tập trung phát hành TPCP có kỳ hạn dài từ 5 năm trở lên, dự kiến vào khoảng 60%-70% tổng khối lượng phát hành tùy vào tình hình thị trường.

Với điều kiện kinh tế vĩ mô, thị trường ổn định và khối lượng huy động qua kênh TPCP phù hợp với khả năng hấp thụ của thị trường thì Chính phủ dự kiến kỳ hạn phát hành bình quân của TPCP là 5,5 năm trong giai đoạn 2016 – 2020.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề xuất được phép phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế để tái cơ cấu danh mục nợ Chính phủ trong năm 2015 – 2016. Dự kiến khối lượng phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ khoảng 3 tỷ USD.

Theo tờ trình của Chính phủ, việc đa dạng hóa kỳ hạn phát hành TPCP và sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ để tái cơ cấu danh mục nợ Chính phủ về cơ bản, không làm tăng dư nợ Chính phủ. Các chỉ số an toàn về nợ công đến năm 2020 vẫn được duy trì trong giới hạn quy định, đồng thời vẫn đáp ứng được mục tiêu cơ cấu nợ hợp lý theo chiến lược đã đề ra là đến năm 2020 tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ luôn thấp hơn 50% tổng nợ Chính phủ.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, giải pháp này sẽ tạo ra tín hiệu tốt đối với các nhà đầu tư quốc tế về việc Việt Nam tham gia thị trường một cách thường xuyên, tác động tích cực đến tính thanh khoản của các trái phiếu hiện hành cũng như tạo ra sự hấp dẫn cho các trái phiếu mới để giảm chi phí huy động vốn trong tương lai. Góp phần giảm áp lực về vốn ngoại tệ của các NH trong nước, duy trì lãi suất trong nước ở mức thấp để hỗ trợ cho vay đối với DN không có điều kiện vay vốn ngoại tệ từ nước ngoài.

Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu quốc tế có tác động làm tăng cung ngoại tệ sẽ góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, giảm áp lực lên tỷ giá hối đoái và ổn định kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, cần cân nhắc thận trọng việc phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế vì việc phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế chưa hẳn là một giải pháp hiệu quả và tối ưu nhất để bảo đảm an toàn, an ninh tài chính về nợ công vì việc vay mới không làm giảm nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ.

Hơn nữa việc phát hành trái phiếu quốc tế chưa thật sự phù hợp với các Nghị quyết của Quốc hội vì đây chính là một hình thức vay mới và sử dụng một phần để đảo nợ trong khi Nghị quyết số 75/2014/QH13 đã đề nghị Chính phủ “hạn chế sử dụng vay mới để đảo nợ cũ” và Nghị quyết số 78/2014/QH13 cũng đã giao Chính phủ “giảm mức vay đảo nợ”.

Quốc hội yêu cầu Chính phủ chỉ được phát hành trái phiếu dài hạn là để giảm áp lực trả nợ. Việc phát hành trái phiếu dưới 5 năm thì không thể gọi là đầu tư mà làm như vậy sẽ tăng thêm chi phí vốn. “Mình vừa lo nợ công, vừa tăng vay nợ, vừa tăng bội chi để vay, vừa tăng phát hành TPCP để vay mà lại vay ngắn hạn thì rất mạo hiểm. Bài toán này phải cân nhắc rất thận trọng”.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lưu ý và đề nghị Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện các chính sách để phát triển nhanh thị trường vốn và thị trường mua bán nợ. Khi hai thị trường này phát triển, không những giúp phát hành TPCP thành công mà còn giải quyết tốt vấn đề xử lý nợ xấu và đẩy nhanh được tốc độ cổ phần hoá DNNN.

Hệ thống nhà đầu tư trên thị trường TPCP hiện nay chủ yếu là nhà đầu tư ngắn hạn. Nền kinh tế và thị trường tài chính còn chưa phát triển, nên nguồn tiết kiệm dài hạn để đầu tư vào thị trường thông qua các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí tự nguyện còn rất hạn chế. Dân cư chủ yếu lựa chọn hình thức gửi tiền tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng vì có lãi suất cao và cơ chế rút tiền linh hoạt. Kinh tế vĩ mô còn chưa thực sự ổn định nên chưa thu hút được sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là thực trạng chung của các thị trường TPCP trong giai đoạn đang phát triển.

Trích tờ trình Chính phủ

Minh Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900