Kỳ vọng nào cho cổ phiếu ngân hàng năm 2022?

07:32 | 11/01/2022

Dòng tiền có thể có sự phân hóa. Các ngân hàng có tiềm năng tăng trưởng cao, chất lượng tài sản tốt hoặc có các câu chuyện riêng về tăng vốn, ký kết bảo hiểm độc quyền… có thể sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong thời gian tới.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm cổ phiếu ngân hàng chiếm khoảng 1/4 tổng giá trị vốn hóa thị trường. Do đó diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này trong mỗi phiên giao dịch tác động khá lớn đến chỉ số VN-Index. Nhìn lại diễn biến thị trường chứng khoán năm 2021, mỗi khi VN-Index vượt đỉnh lịch sử đều có sự đóng góp tích cực của nhóm cổ phiếu ngân hàng. Trong những phiên cuối năm 2021, cổ phiếu ngân hàng thu hút dòng tiền tốt hơn. Bước sang năm 2022, ngay phiên đầu tiên nhóm dần thể hiện vai trò trụ cột khi dẫn dắt VN-Index vượt 1.500 điểm. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư kỳ vọng nhóm “cổ phiếu vua” sẽ hút dòng tiền trong thời gian tới.

Đánh giá ở góc độ tổng thể, một thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho biết, tuy sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trong năm 2022, nhưng hoạt động ngành Ngân hàng vẫn có nhiều thuận lợi.

ky vong nao cho co phieu ngan hang nam 2022
Cổ phiếu ngân hàng khởi sắc nhưng cơ hội không chia đều cho tất cả

Theo đó trong năm 2022, nền kinh tế được dự báo phục hồi đáng kể, điều này sẽ kéo theo cầu tín dụng phục hồi. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi số, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nhất là mảng dịch vụ bán lẻ… của các ngân hàng đang diễn ra rất tích cực, giúp ngân hàng gia tăng nguồn thu nhập từ dịch vụ. Mặt khác, gần đây các ngân hàng liên tục củng cố năng lực tài chính, tăng cường trích lập dự phòng rủi ro. Đến nay tỷ lệ bao nợ xấu của các ngân hàng phổ biến hơn 100%, cá biệt nhiều ngân hàng trên 200-300% (trong khi trước dịch bùng phát tỷ lệ chỉ ở mức khoảng 70-80%). “Với việc trích lập dự phòng tăng mạnh vừa qua, hệ thống ngân hàng có đủ lực để ứng phó với rủi ro trong một, hai năm tới”, vị này cho biết.

Các chuyên gia dự báo, ngân hàng sẽ là đại diện tiêu biểu cho sự hồi sinh kinh tế Việt Nam sau đại dịch. Theo nhận định của bà Trần Khánh Hiền - Giám đốc Khối phân tích Công ty Chứng khoán VNDirect, năm 2022, ngân hàng là một trong những ngành được hưởng lợi lớn từ việc thúc đẩy đầu tư công và phục hồi cầu tín dụng.

Đợt điều chỉnh giá của nhóm cổ phiếu ngành Ngân hàng từ giữa năm 2021 chủ yếu phản ánh rủi ro áp lực trích lập dự phòng trong bối cảnh nợ xấu gia tăng. Sau thời gian điều chỉnh, định giá của nhóm ngân hàng đã giảm 12 -15% so với mức đỉnh, giúp nhóm này trở nên hấp dẫn hơn trong thời điểm hiện tại.

Do đó, bà Hiền kỳ vọng vào sự khởi sắc của nhóm cổ phiếu ngân hàng trong nửa đầu năm 2022, song cơ hội sẽ không chia đều cho tất cả. Bởi trong bối cảnh cầu tín dụng còn yếu, ngân hàng có khả năng đẩy mạnh cho vay, hoặc có tỷ trọng thu nhập ngoài lãi cao sẽ có lợi thế.

Nhận định trên trùng khớp đánh giá trong báo cáo về ngành Ngân hàng mới công bố của SSI Research. Theo định chế này, quan ngại về rủi ro nợ xấu và tăng trưởng lợi nhuận chậm lại trong nửa đầu năm 2022 đã phản ánh một phần vào giá cổ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên mức giá hiện tại có thể tạo cơ hội cho nhà đầu tư mua cổ phiếu ngân hàng tốt.

Chung quan điểm, chuyên gia chứng khoán Nguyễn Hồng Điệp cho rằng, cổ phiếu ngân hàng thời gian qua gần như đã giảm xuống vùng đáy, dù có tăng mạnh 1 - 2 phiên thì vẫn ở vùng rất hấp dẫn cho việc đầu tư trong khoảng 6 tháng.

Ngoài yếu tố kết quả kinh doanh khả quan, theo ông Nguyễn Anh Khoa - Trưởng phòng Phân tích và Tư vấn đầu tư của Công ty Chứng khoán Agriseco, có năm yếu tố có thể kỳ vọng nhóm ngành này sẽ tiếp tục thu hút dòng tiền trong thời gian tới sau khoảng thời gian đi ngang tích lũy khá dài.

Đầu tiên, tăng trưởng tín dụng quý IV/2021 đã hồi phục mạnh mẽ trở lại so với quý III và dự kiến đạt xấp xỉ 14% trong năm 2021. Kỳ vọng năm 2022, tín dụng sẽ tăng trưởng tích cực do nền kinh tế đang dần mở cửa trở lại cùng các gói hỗ trợ kinh tế của Chính phủ được dự kiến triển khai thời gian tới.

Thứ hai, nợ xấu của các ngân hàng có thể gia tăng nhưng khả năng vẫn sẽ trong tầm kiểm soát do thị trường bất động sản - tài sản đảm bảo chính của các ngân hàng, duy trì mặt bằng giá và thanh khoản tích cực sẽ là những điều kiện thuận lợi để các ngân hàng xử lý nợ trong trường hợp xấu.

Thứ ba, quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nhiều ngân hàng đang dần hình thành hệ sinh thái ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm với các sản phẩm tài chính công nghệ 4.0 giúp gia tăng giá trị thặng dư.

Thứ tư, quy mô và năng lực tài chính của các ngân hàng đang được đẩy mạnh nhờ lợi nhuận tích lũy cùng quá trình tăng vốn, phát hành cho đối tác chiến lược.

Cuối cùng, định giá ngành Ngân hàng Việt Nam hiện tại theo P/B (2,2x) dù cao hơn so với trung bình các nước trong khu vực (1,4x) nhưng vẫn thấp hơn so với VN-Index và có ROE (21,3%) cao vượt trội so với các nước trong khu vực (12,8%).

Tuy nhiên, dòng tiền có thể có sự phân hóa. Các ngân hàng có tiềm năng tăng trưởng cao, chất lượng tài sản tốt hoặc có các câu chuyện riêng về tăng vốn, ký kết bảo hiểm độc quyền… có thể sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong thời gian tới.

Một chuyên gia chứng khoán khác đồng quan điểm cho rằng, dòng tiền sẽ quay trở lại nhóm cổ phiếu ngân hàng nhưng có sự phân hóa khá mạnh nên nhà đầu tư cần cân nhắc lựa chọn cổ phiếu có dòng tiền tăng tốt cũng như kết quả kinh doanh nổi bật để tối ưu hóa lợi nhuận.

Kết thúc phiên cuối tuần ngày 7/1/2022, VN-Index giảm nhẹ 0,09% đóng cửa ở mức hơn 1.528 điểm, giá cổ phiếu ngân hàng đan xen tăng giảm. Một số cổ phiếu giữ sắc xanh như LPB, MBB... nhưng so với cách đây một tháng giá nhiều cổ phiếu ngân hàng tăng khá tốt như STB tăng từ mức giá 28.050 đồng/cp lên 31.950 đồng/cp.

Hà Thành

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.274 23.789 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.540 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.400
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.400
67.400
Vàng SJC 5c
66.400
67.420
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.600
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.200