banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 14/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.646 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.414/26.878 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh

Quỳnh Trang
Quỳnh Trang  - 
Thị trường các-bon vận hành hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn thu từ kết quả giảm phát thải, qua đó đa dạng hóa nguồn lực cho chuyển đổi xanh và giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng. Để khơi thông dòng vốn, cần đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dữ liệu và năng lực thẩm định, bảo đảm các dự án vừa mang lại lợi ích môi trường, vừa có khả năng trả nợ.
aa
Nam A Bank nhận 30 triệu USD từ Proparco thúc đẩy tài chính xanh Đề xuất gom dự án nhỏ để mở rộng vốn xanh Nông nghiệp công nghệ cao: Cuộc đua không chỉ dành cho người nhiều vốn

Sáng 14/10, Báo Tài chính – Đầu tư tổ chức Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường các-bon: Khơi thông dòng vốn xanh”. Phát biểu tại hội thảo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh mối quan hệ bổ trợ giữa tín dụng xanh và thị trường các-bon trong huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Chuyển kết quả giảm phát thải thành nguồn lực tài chính

Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26 về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển nền kinh tế các-bon thấp.

Quá trình này đòi hỏi nguồn lực rất lớn để đổi mới công nghệ, chuyển đổi phương thức sản xuất, sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm phát thải khí nhà kính. Vì vậy, bên cạnh ngân sách nhà nước và nguồn vốn huy động từ thị trường vốn, thị trường tiền tệ, cần phát triển các cơ chế thị trường khác để bổ sung nguồn lực, tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp chủ động giảm phát thải.

Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại Hội thảo

Thông qua việc xác lập hạn ngạch, đo lường kết quả giảm phát thải và hình thành giá giao dịch đối với hạn ngạch, tín chỉ các-bon, thị trường các-bon tạo cơ chế chuyển kết quả giảm phát thải thành giá trị kinh tế. Doanh nghiệp nhờ đó có thêm động lực và nguồn lực tiếp tục đầu tư cho chuyển đổi xanh.

Ngày 29/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch các-bon trong nước, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tổ chức, vận hành thị trường và giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon. Thị trường các-bon trong nước được đưa vào vận hành từ ngày 29/6/2026.

Thị trường thí điểm bước đầu được hình thành với hơn 511 triệu tấn CO₂ tương đương hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong giai đoạn 2025–2026. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, trước khi chuyển sang vận hành bắt buộc toàn diện từ năm 2029. Các ngân hàng thương mại tham gia với vai trò ngân hàng thanh toán; trong giai đoạn thí điểm, BIDV là ngân hàng thanh toán duy nhất trên thị trường.

Từ góc độ ngành Ngân hàng, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh cho rằng cần nhìn nhận rõ vai trò của từng công cụ trong quá trình chuyển đổi xanh. Tín dụng xanh cung cấp vốn cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển các ngành, lĩnh vực xanh, từ đó tạo ra kết quả giảm phát thải. Những kết quả này là cơ sở hình thành hàng hóa cho thị trường các-bon.

Ở chiều ngược lại, thị trường các-bon vận hành hiệu quả có thể bổ sung nguồn thu cho doanh nghiệp từ kết quả giảm phát thải, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.

Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh
Toàn cảnh Hội thảo

“Khi thị trường các-bon vận hành hiệu quả, kết quả giảm phát thải có thể được chuyển hóa thành nguồn lực tài chính cho chính doanh nghiệp. Theo đó, sự phát triển của thị trường các-bon có thể góp phần giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng xanh”, Phó Thống đốc cho biết.

Thay vì chủ yếu dựa vào vốn tự có, ngân sách hoặc tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp có thêm khả năng huy động nguồn lực từ chính kết quả chuyển đổi của mình. Về dài hạn, cơ chế này góp phần đa dạng hóa nguồn tài chính và tạo điều kiện phân bổ vốn tín dụng hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, đối với tín dụng xanh, yêu cầu không dừng ở việc giải ngân cho một dự án được xác định là xanh, mà còn phải kiểm định kết quả tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Hoạt động đo lường, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải cùng giao dịch trên thị trường các-bon có thể cung cấp thêm thông tin để các tổ chức tín dụng theo dõi hiệu quả môi trường của dự án, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tăng cường giám sát dòng vốn xanh.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho biết, ước tính Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, nhu cầu vốn cho thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu khoảng 254 tỷ USD, cho giảm phát thải khoảng 114 tỷ USD. Riêng ngành điện, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ước tính cần 136 tỷ USD đầu tư phát triển nguồn và lưới điện giai đoạn 2026–2030.

Theo ông Giáp, trước mắt, nhu cầu vốn tập trung vào điện sạch, lưới điện và tiết kiệm năng lượng; tiếp đó là sản xuất công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và xử lý chất thải. Nhu cầu rất lớn, nhưng vốn chỉ được giải ngân khi dự án được đánh giá có hiệu quả, có khả năng trả nợ và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng.

Thị trường các-bon tạo động lực kinh tế để giảm phát thải, còn tín dụng cung cấp vốn để doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư cần thiết. Hai công cụ chỉ bổ trợ hiệu quả khi tổ chức tín dụng đủ năng lực đánh giá hoạt động xanh, hoạt động chuyển đổi, dòng tiền từ tín chỉ các-bon và khả năng trả nợ của từng dự án.

Khơi thông dòng vốn trên cơ sở kiểm soát rủi ro

Những năm qua, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy tín dụng xanh, hướng vốn vào các ngành, lĩnh vực mang lại lợi ích môi trường. NHNN từng bước hoàn thiện khuôn khổ chính sách, ban hành định hướng, hướng dẫn về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội; khuyến khích các tổ chức tín dụng xây dựng chiến lược, quy trình nội bộ và phát triển sản phẩm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.

Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856 nghìn tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Trong giai đoạn 2017–2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20% mỗi năm. Dòng vốn tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm trên 31%; năng lượng xanh chiếm gần 28%.

Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh
TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank trao đổi tại Hội thảo

Dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Kết quả này cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong đồng hành với quá trình chuyển đổi xanh, khi các kênh huy động vốn xanh khác vẫn đang phát triển.

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, cho biết, đến cuối tháng 3/2026, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng. Theo bà Hà, để đưa giá trị các-bon vào hoạt động tài chính, cần làm rõ quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi đối với kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý khoản phải thu, giao dịch bảo đảm, kế toán, thuế và ngoại hối đối với các giao dịch có yếu tố các-bon.

Dữ liệu và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) cần được coi là hạ tầng thiết yếu. Việc giảm chi phí MRV cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vùng nguyên liệu, phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa thông tin ngay từ đầu dự án sẽ hỗ trợ mở rộng khả năng tham gia thị trường.

Cùng với phát triển nguồn cung, cần phát triển nhu cầu thị trường, gắn việc hỗ trợ dự án với yêu cầu của bên mua, tiêu chuẩn tín chỉ, chứng từ và điều kiện thanh toán. Các công cụ tài chính hỗn hợp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh hoặc vốn ưu đãi cần hướng vào những rủi ro cụ thể trong giai đoạn chuẩn bị, thí điểm, MRV và đầu tư công nghệ, đồng thời bảo đảm nguyên tắc thẩm định tín dụng.

Phát triển thị trường các-bon, giảm áp lực lên tín dụng xanh
Trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy tín dụng xanh

Một yêu cầu khác là bảo vệ quyền lợi người sản xuất và cộng đồng. Hợp đồng cần dễ hiểu, quy định rõ chi phí, quyền dữ liệu, quyền hưởng doanh thu, thời hạn và cơ chế khiếu nại, bảo đảm bên chịu chi phí chuyển đổi được hưởng lợi tương xứng. Chính quyền địa phương cũng cần tham gia hỗ trợ đánh giá MRV khách quan, minh bạch và có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đáp ứng yêu cầu xanh, kinh tế tuần hoàn và chuẩn ESG.

Ở góc độ thẩm định, ông Bùi Minh Giáp lưu ý, một dự án giảm phát thải có thể tạo lợi ích từ tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí mua hạn ngạch hoặc doanh thu bán tín chỉ. Với nguồn thu dự kiến từ tín chỉ các-bon, tổ chức tín dụng phải xem xét khả năng được cấp tín chỉ, sản lượng thực tế, người mua, giá bán, chi phí xác minh và thời điểm nhận tiền. Hợp đồng mua dài hạn có thể giảm rủi ro đầu ra, nhưng không bảo đảm doanh nghiệp tạo ra và giao đủ tín chỉ.

Để khơi thông dòng vốn xanh, theo ông Giáp, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế song hành với phát triển thị trường các-bon và tài chính xanh. Các điều kiện nền tảng gồm bộ tiêu chí chuẩn cho hoạt động xanh và hoạt động chuyển đổi, cơ sở dữ liệu phát thải đáng tin cậy, dự án được chuẩn bị kỹ lưỡng và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm quản lý, giám sát, vận hành; tăng cường phối hợp liên ngành, liên ngân hàng và nâng cao năng lực thẩm định.

Khi kết quả giảm phát thải được kiểm chứng, quyền hưởng lợi được xác lập rõ và dòng tiền có khả năng thu hồi, giá trị các-bon mới có cơ sở trở thành nguồn lực tài chính. Đây cũng là điều kiện để ngân hàng mở rộng tín dụng xanh, doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn và người sản xuất được hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi.

Quỳnh Trang

Tin liên quan

Tin khác

Ngân hàng - Fintech:  Xây dựng tuyến

Ngân hàng - Fintech: Xây dựng tuyến 'cao tốc vốn' cho đổi mới sáng tạo

Trong mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, giá trị của một doanh nghiệp không còn chỉ đo đếm bằng quy mô nhà xưởng, đất đai hay máy móc, mà nằm ở dữ liệu, thuật toán, sở hữu trí tuệ, năng lực công nghệ và đội ngũ nhân sự. Tuy nhiên, nghịch lý lớn nhất hiện nay của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không nằm ở sự khan hiếm nguồn lực, mà nằm ở sự thiếu đồng nhịp giữa cấu trúc tài chính truyền thống và bản chất của kinh tế số. Bởi vậy, sự hợp tác chặt chẽ giữa ngân hàng thương mại và các công ty công nghệ tài chính (Fintech) đang trở thành “cầu nối” mở đường cho dòng vốn vào lĩnh vực này.
Tăng cảnh báo gian lận trong thanh toán số

Tăng cảnh báo gian lận trong thanh toán số

Tốc độ giao dịch thanh toán số càng nhanh, thời gian để phát hiện và ngăn chặn gian lận càng bị thu hẹp. Khi các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, sử dụng AI, deepfake và mạng lưới tài khoản trung gian, yêu cầu đặt ra với ngân hàng không chỉ là xác thực đúng khách hàng mà còn phải kịp thời nhận diện những giao dịch bất thường.
Chuyển đổi số ngân hàng: Giữ vững vai trò tiên phong trong kỷ nguyên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo

Chuyển đổi số ngân hàng: Giữ vững vai trò tiên phong trong kỷ nguyên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo

Ngành Ngân hàng không chỉ là một trong những ngành tiên phong, đi đầu trong chuyển đổi số mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số. Với quan điểm tiếp cận lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, chuyển đổi số ngành Ngân hàng đang chuyển mạnh từ giai đoạn số hóa sang giai đoạn khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển hệ sinh thái số, đồng thời vẫn giữ vững yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống. Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng đã có cuộc trao đổi với Thời báo Ngân hàng về những thành quả và định hướng trên hành trình chuyển đổi số ngân hàng nhằm góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Thị trường thẻ ngân hàng bước vào giai đoạn phát triển mới

Thị trường thẻ ngân hàng bước vào giai đoạn phát triển mới

Sáng ngày 9/10/2026, tại Đà Nẵng, Chi hội Thẻ trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Hội thảo chuyên đề “Open - Smart - Secure” (Mở - Thông minh - An toàn). Sự kiện nằm trong khuôn khổ Hội nghị Thường niên năm 2026 và kỷ niệm 30 năm thành lập Chi hội Thẻ (1996 - 2026). Sự kiện có sự tham dự của đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Công an, các tổ chức thẻ quốc tế cùng nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thanh toán…
Mở rộng ‘vành đai’ bảo vệ tài khoản số

Mở rộng ‘vành đai’ bảo vệ tài khoản số

Xác thực sinh trắc học mang lại hiệu quả trong kiểm soát tài khoản gian lận, nhưng cần được nhìn nhận là một biện pháp trong tổng thể các giải pháp bảo đảm an toàn. Việc thu thập, đối chiếu thông tin sinh trắc học không phải là một giải pháp duy nhất để có thể ngăn chặn được lừa đảo, gian lận.
Thanh toán số phát triển bứt phá

Thanh toán số phát triển bứt phá

Năm 2026 đánh dấu cột mốc trưởng thành mới của thị trường thanh toán số Việt Nam sau chặng đường 5 năm phát triển bứt phá. Những tiện ích như chạm thẻ, quét mã QR... trở nên quen thuộc trên từng góc phố. Hạ tầng thanh toán quốc gia cũng đang chuyển mình, từ bước định hình thói quen sang giai đoạn tối ưu hóa trải nghiệm, hướng tới mục tiêu phổ cập tài chính toàn diện.
Công bố chuỗi sự kiện Ngày Thanh toán số Việt Nam 2026

Công bố chuỗi sự kiện Ngày Thanh toán số Việt Nam 2026

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Ngày Thanh toán số Việt Nam 2026 chính thức công bố chuỗi sự kiện năm 2026, với chủ đề “Chạm số - Sống xanh”, đánh dấu mùa thứ 6 của chương trình và một bước chuyển mới sau 5 năm Ngày Thẻ Việt Nam.
Hơn 1,9 triệu lượt khách hàng dừng giao dịch sau cảnh báo gian lận

Hơn 1,9 triệu lượt khách hàng dừng giao dịch sau cảnh báo gian lận

Hơn 1,9 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch với tổng số tiền trên 6,3 nghìn tỷ đồng sau khi nhận cảnh báo qua hệ thống SIMO. Cùng với chia sẻ dữ liệu rủi ro, ngành Ngân hàng tiếp tục tăng cường các lớp bảo vệ, xác thực khách hàng và giám sát giao dịch trước những thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao ngày càng tinh vi.
5 nhóm giải pháp hiện đại hóa Ngân hàng Nhà nước

5 nhóm giải pháp hiện đại hóa Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ tiếp tục hiện đại hóa hoạt động điều hành chính sách tiền tệ, phát triển hệ thống dữ liệu, các mô hình dự báo và cảnh báo sớm; trong đó định hướng chuyển dần từ điều hành theo khối lượng sang điều hành theo giá, tăng sử dụng các công cụ gián tiếp.
Đưa AI vào ngân hàng: Sức mạnh từ những người hiểu nghiệp vụ

Đưa AI vào ngân hàng: Sức mạnh từ những người hiểu nghiệp vụ

Ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, chuyển dịch từ số hóa thuần túy sang xây dựng nền tảng dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, để công nghệ này thực sự phát huy hiệu quả, yếu tố cốt lõi không chỉ nằm ở thuật toán, mà nằm ở chính những nhân sự am hiểu sâu sắc nghiệp vụ tại cơ sở.