Phụ nữ BIDV và Bản tình ca viết cho những con số - Kỳ 1
Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 năm nay đến khi Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chỉ còn hơn nửa năm nữa là tròn bảy mươi tuổi (26/4/1957 - 26/4/2027). Trong gần 29.200 cán bộ, người lao động của BIDV hôm nay, hơn 16.700 người là nữ.
Nhớ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn: “Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.” Gần bảy mươi năm qua, những người phụ nữ ấy đã đáp lại xứng đáng lời dặn ấy bằng chính lao động của mình. Đó là cô kế toán bên bàn tính gảy nơi sơ tán, người mở nghiệp vụ thanh toán quốc tế từ một căn phòng ba cán bộ, người giữ dữ liệu qua những đêm chuyển đổi, và người cầm lái những cuộc cải cách toàn hàng.
Vế còn lại của lời dặn ấy thuộc về tổ chức: “bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”. Hôm nay, tinh thần ấy được tiếp nối trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tinh thần ấy còn được thể hiện trong Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới và trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Ở BIDV, đó là Nghị quyết số 61-NQ/ĐU ngày 21/5/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy đặt mục tiêu xây dựng BIDV là “ngân hàng hạnh phúc” của người lao động. Câu chuyện những người phụ nữ BIDV, đọc dưới ánh sáng ấy, cho thấy công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp không chỉ nằm trong những con số tăng trưởng, mà nằm ở cách một tổ chức nhìn thấy, trân trọng, trao quyền và lắng nghe con người của mình.
KỲ 1 - GIỮ LỬA: NHỮNG CÔ GÁI MƯỜI TÁM, ĐÔI MƯƠI BÊN BÀN TÍNH GẢY
Ba mươi ba năm đầu của lịch sử BIDV trùng với những năm tháng lịch sử hào hùng và nhiều biến đổi nhất của đất nước: kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày thống nhất non sông, những năm dựng xây và tìm đường trước Đổi mới. Những người phụ nữ bước vào nghề khi mới mười tám, đôi mươi đã để lại cho ngôi nhà này một chữ xuyên suốt bảy thập kỷ: chữ “giữ”.
Ở BIDV… Phụ nữ là Lửa
“Người ta bảo… Phụ nữ là hoa
Ở BIDV… Phụ nữ là Lửa
Lửa nhiệt tình / Lửa đam mê
Cho công việc bộn bề
Cho tình yêu, cho cuộc sống
Người ta bảo… Phụ nữ là phái yếu
Ở BIDV… Phụ nữ là dòng sông
Sâu thẳm và mênh mông…
Sông hiến mình tất cả
Đời sông… Không hề tiếc… Vơi… Đầy
Người ta bảo… Phụ nữ là một nửa
Ở BIDV… Phụ nữ là tất cả
Cả Niềm tin… / Điểm tựa… với TÌNH YÊU”
Một sớm Tây Hồ tháng 10/2025, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Phùng Thị Vân Anh viết những câu thơ ấy tặng những người phụ nữ BIDV. Chị đã đi cùng ngôi nhà ấy hơn nửa thế kỷ, từ cô nhân viên phòng máy tính những năm 1970 đến người đứng đầu Hội đồng Quản trị. Bài thơ có ba khổ, khổ nào cũng mở bằng “Người ta bảo…” rồi lật lại cách nhìn quen thuộc: hoa thành lửa, phái yếu thành dòng sông, một nửa thành tất cả.
![]() |
| Bà Phùng Thị Vân Anh - Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị BIDV |
Chị không phủ nhận vẻ đẹp của hoa. Chị chỉ nói rằng ở ngôi nhà này, vẻ đẹp ấy còn mang hơi ấm của lửa - lửa của nhiệt tình, của đam mê với công việc bộn bề - và độ sâu của một dòng sông “hiến mình tất cả”, không tiếc khi vơi, không kể khi đầy. Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ được nhìn bằng con mắt của một người phụ nữ đã sống cùng họ, làm cùng họ, thức cùng họ qua những đêm quyết toán.
Ngọn lửa ấy có thể đo bằng những con số cụ thể. Tính đến ngày 31/5/2026, BIDV có 29.190 cán bộ, người lao động, trong đó 16.785 là nữ, chiếm gần 58%. Ba người phụ nữ là thành viên Hội đồng Quản trị và Ban Tổng Giám đốc; hơn 300 người là giám đốc, phó giám đốc; hơn 4.000 người là trưởng, phó phòng. Các chị còn là chủ nhiệm hoặc đồng chủ nhiệm 33 trên 63 đề tài nghiên cứu khoa học cấp hệ thống và cấp cơ sở, chiếm 52,3%. Các đề tài ấy trải rộng từ giải pháp kết nối hệ thống định danh và xác thực điện tử đến đổi mới hệ thống sổ, báo cáo kế toán phù hợp với chuyển đổi số.
Đằng sau những con số ấy là những điều báo cáo không ghi hết: hàng vạn ngày làm việc với những chuyến công tác, những ca trực đêm, những lần học lại từ đầu, những chữ ký phải cân nhắc, những cuộc điện thoại lúc nửa đêm và cả những bữa cơm gia đình bị bỏ lỡ.
Điều đáng suy ngẫm là không chỉ chị Vân Anh tìm đến thơ. Nguyên Kế toán trưởng BIDV Ngô Thị Ất mở đầu hồi ký về nghề của mình bằng bốn câu thơ của Hữu Nguyện: “Một đời con số trên vai / Gánh gồng suốt chặng đường dài trăm năm… / Đã trót yêu, chọn chẳng nhầm / Chứng từ sổ sách đứng nằm chẳng yên.” Người hàng ngày đối mặt với phép tính, với nguyên tắc cân đối và kiểm nghiệm, khi nói về đời mình, cuối cùng lại cần đến thi ca, bởi con số dù chính xác đến đâu cũng chưa thể kể hết một đời người.
![]() |
| Chị Ngô Thị Ất - Nguyên Kế toán trưởng BIDV |
Khép lại hơn ba mươi năm nghề, chị Ngô Thị Ất viết một câu rất khiêm nhường: “Tôi xin nguyện sẽ luôn là một nốt trầm để đóng góp cho bản hòa ca BIDV.” Một người nhận mình là “nốt trầm”, một người nhìn thấy ở phụ nữ “tất cả”. Hai câu nói tưởng như đối lập lại cùng tồn tại trong một ngôi nhà, và một chân dung tập thể trung thực phải giữ được cả hai: sự khiêm nhường của người đóng góp âm thầm và ý thức về sức mạnh của cả một đội ngũ.
“Nghề kế toán không khó, khó nhất là phải đúng”
Chân dung thế hệ khai sơn nằm trong những việc tưởng như rất nhỏ. Tháng 3/1970, ngày đầu bước vào Chi hàng Kiến thiết Hà Bắc, chị Nguyễn Thị Định được nghe người đi trước dạy nghề bằng một câu giản dị mà sau này trở thành lời “gia huấn” của nghề: “Nghề kế toán không khó, khó nhất là phải đúng.”
Chị Định về sau trở thành Trưởng phòng Kế toán Chi hàng Kiến thiết đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Nhưng hình ảnh đẹp nhất trong hồi ký của chị lại là một câu rất đời thường, khi con gái chị, cán bộ mới được tuyển dụng vào BIDV, xin phép mẹ: “Chào mẹ, con đi làm!” Mẹ nghỉ, con tiếp bước; nghề ngân hàng đã thành sợi dây nối các thế hệ trong một gia đình.
![]() |
| Nữ cán bộ trong những năm đầu của Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam |
Tháng 7/1965, cô giáo Lê Thị Thuận ở thị xã Phủ Lý rời bục giảng sang làm kế toán phòng cấp phát, tiền thân Ngân hàng Kiến thiết Hà Nam. Chị làm nghề bằng tất cả sự cẩn trọng giữa thời bom đạn: “Ban đêm phải chong đèn Hoa Kỳ lên để tìm sai, ánh sáng chỉ bằng hạt đậu xanh, như vậy cũng chưa yên tâm mà phải lấy chụp giấy che lại để giữ sự an toàn cho nhân dân nơi mình sơ tán.”
Để báo cáo kịp gửi lên sớm, chị đạp xe 32 km từ lúc 5 giờ sáng. Ba mươi năm nghề được chị khép lại bằng một hình ảnh: “Tuy thật nhỏ bé ví như một giọt nước nhỏ nhoi nhưng nhiều giọt nước góp lại sẽ thành một đại dương rộng lớn.”
Giữa đông năm 1972, cô gái mười chín tuổi Đoàn Thị Son về phòng máy tính Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam và trở thành nhân viên buồng máy đầu tiên. Nhiệm vụ của chị là cân đối cho cả hệ thống bằng những chiếc máy NISA và những chiếc bàn tính gảy đặt trên thềm hè nhà dân nơi sơ tán. Trong mắt chị, phòng kế toán là “những con ong cần mẫn”. Hai mươi năm sau, hình tượng con ong ấy trở thành hình ảnh trung tâm của ca khúc “Như con ong đi tìm hoa lấy mật” mà nhiều thế hệ người BIDV vẫn hát.
Năm 1971, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết “Em đi làm tín dụng”, bài hát đầu tiên nền âm nhạc Việt Nam dành cho người phụ nữ ngành ngân hàng: “Em mang tiền Chính phủ cho bản làng vay đủ / Nuôi thêm đàn lợn béo, trồng thêm lúa thêm ngô…” Người phụ nữ ấy không đứng ngoài đời sống; thành quả của chị là bông lúa, hạt ngô, mái ngói, mái trường.
“Ta góp phần của ta trong đó”
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, BIDV có 17 liệt sĩ. Trong số ấy có chị Trần Thị Bé (Hà Tĩnh), người hy sinh mà chỉ kịp để lại một cái tên trong danh sách Tổ quốc ghi công và những bản đồ án dang dở.
Lại có những người phụ nữ sống sót và mang theo suốt đời một ân tình sinh tử. Khoảng hai giờ sáng một đêm tháng 5/1972 ở Quảng Bình, hai chị Mai và Thức thuộc phòng Hành chính Chi hàng Kiến thiết cùng hai đồng nghiệp nam đạp xe đi lấy gỗ về dựng hầm cho cơ quan. Pháo sáng treo lên, bom bi trút xuống. Ông Lê Bá Hùng kể lại: “Nhìn phía trước, tôi thấy hai chị Mai và Thức đang đi tới… hai chị nói trong nghẹn ngào nức nở: anh Hùng ơi, anh Dũ chết rồi.” Liệt sĩ Ngô Văn Dũ đã lấy thân mình che cho hai đồng nghiệp nữ.
Tháng 2/1971, chị Nguyễn Thị Liên, sau này là Phó Giám đốc BIDV Quảng Bình, tình nguyện đi dân công hỏa tuyến Đường 9 - Nam Lào. Suốt mười hai tháng, ngày chị gác kho, đêm cáng thương binh: “Bình thường thì mỗi đêm đi một chuyến… đột xuất có đêm hai ba chuyến, vai cứ sưng vù lên, bầm tím. Trở về thì Sao Mai đã mọc.” Giữa những đêm như thế, trong hang đá, chị làm thơ:
“Những hòm đạn, thương binh trên vai trĩu nặng / Thức suốt đêm mà chí vẫn bền / Pháo ta gầm đánh địch tả tơi / Ta góp phần của ta trong đó / Thắng trận Nam Lào tiếng dội khắp nơi.”
Đây là một trong những bài thơ sớm nhất do phụ nữ ngành ngân hàng sáng tác còn được lưu giữ đến hôm nay, nhờ trí nhớ của chính người viết. Câu thơ “Ta góp phần của ta trong đó”, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn có thể đọc như lời tự nhận về vị trí của phụ nữ trong lịch sử BIDV: không đứng ngoài cuộc, cũng không cần đứng ở chỗ nổi bật nhất, chỉ cần góp đủ phần của mình.
Đó cũng chính là tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết khi tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Tám chữ ấy không chỉ thuộc về những trận địa lừng danh mà còn hiện diện trên con đường cáng thương đêm đêm dưới pháo sáng, trong ngọn đèn “bằng hạt đậu xanh” nơi sơ tán, trong đôi vai bầm tím của một nữ cán bộ ngân hàng làm dân công hỏa tuyến.
Sáu mươi lăm năm tuổi Đảng và những người bền bỉ
Chị Trương Thị An vào Đảng từ năm mười sáu tuổi, đi trọn ba mươi ba năm công tác và nghỉ hưu năm 1988 ở cương vị Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Mùa xuân năm 2011, Ban lãnh đạo BIDV vào tận Khánh Hòa trao cho chị Huân chương Lao động hạng Ba và bức trướng đỏ của toàn hệ thống, mừng chị tròn tám mươi mốt tuổi và sáu mươi lăm năm tuổi Đảng. Hôm ấy, chị Phùng Thị Vân Anh ghi lại: “Những người cán bộ già chúng tôi rưng rưng ứa lệ.”
Sáu mươi lăm năm tuổi Đảng của một nữ Phó Tổng Giám đốc là chi tiết rất đáng trân trọng. Chi tiết ấy cho thấy ngay từ những ngày đầu, ngôi nhà BIDV đã có những nữ đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, không phải như một ngoại lệ được ưu ái mà là kết quả của cả một đời phấn đấu. Chính họ cũng là tấm gương cho những lớp đảng viên nữ đi sau.
Ở Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết miền tây Hà Tĩnh có chị Đậu Thị Thanh Minh, người mà đồng nghiệp nhớ là “có vóc dáng của một tiểu thư”. Chị xin chuyển từ Hòa Bình về gần mẹ già, nhưng nơi nhận lại cách nhà gần hai trăm cây số. Thế nhưng người “tiểu thư” ấy “vẫn cuốc đất trồng rau, hái măng, kiếm củi… những việc làm mà từ nhỏ tới lớn chị chưa từng phải làm.”
Những câu chuyện như thế làm nên gương mặt của cả một thế hệ: họ sống giản dị, ít khi nói về mình, nhưng bền bỉ với công việc đến cùng.
Từ đỉnh Trường Sơn đến số 17 Bến Chương Dương
Sáng 1/5/1975, tại số 17 Bến Chương Dương, bốn cô gái hai mươi tuổi vừa đi bộ qua Trường Sơn được giao nhiệm vụ: “Cất giữ chìa khóa kho tiền của các ngân hàng đưa về.” Khi ấy các cô còn thuộc biên chế Ngân hàng Nhà nước; nhiều năm sau mới chuyển về các chi nhánh Đầu tư và Xây dựng.
Trong đoàn tiếp quản sáng hôm ấy có cô Nguyễn Thị Hoa Lý, hai mươi hai tuổi. Nhận lệnh vào chiến trường B2 khi vừa rời ghế nhà trường, cô trằn trọc một ngày một đêm rồi tự hỏi: “cả gia đình tham gia cách mạng, tại sao mình lại không xung phong lên đường khi Đảng đang cần?”. Vai ba lô, chân dép cao su, tay gậy Trường Sơn, đoàn hơn năm mươi người của cô, phần lớn là sinh viên ngân hàng vừa tốt nghiệp, bị máy bay địch ném bom ở ngã ba Đông Dương. Năm chị em kiệt sức ngất xỉu, vừa tỉnh dậy đã nhất quyết “chúng em không ở lại đâu, chúng em khỏe rồi”.
Để cả đoàn đủ sức đi tiếp trong đêm, cô gái miền Trung trẻ nhất nhì đoàn ấy, Nguyễn Thị Hoa Lý, cất tiếng hát “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”. Người trưởng đoàn nhớ mãi: tiếng hát làm mọi người “vơi đi sự mệt mỏi, chỉ thấy phía trước nơi mình đến là nơi Tổ quốc đang cần”. Sáng 1/5/1975, tổ K3 của cô là một trong những đơn vị đầu tiên vào tiếp quản Ngân hàng Quốc gia tại số 17 Bến Chương Dương. Chính những người trẻ ấy, với tinh thần không quản ngại gian khổ, bom đạn, đã góp phần giữ cho hoạt động của ngành Ngân hàng được thông suốt trên một nửa đất nước vừa được giải phóng
Từ rất lâu, người Việt đã gắn hình tượng người phụ nữ với việc giữ kho, giữ của cải, giữ những gì thuộc về cộng đồng. Tín ngưỡng Bà chúa Kho là một biểu tượng như thế. Nhiều thế kỷ sau, ngày đất nước thống nhất, chùm chìa khóa kho tiền của cả một đô thị lớn được trao cho bốn cô gái. Hai thời đại cách xa nhau lại gặp nhau ở cùng một hình ảnh: người phụ nữ được giao giữ những gì quý giá nhất. Trong nếp nhà Việt, trao chìa khóa cho ai cũng có nghĩa là trao niềm tin cho người ấy.
![]() |
| Đoàn cán bộ kinh tài tại căn cứ Tây Ninh |
Chữ “giữ” của thế hệ khai sơn
Những người phụ nữ của buổi khai sơn thường xuất hiện trong ký ức dưới dạng tập thể: “Năm chị em lần lượt ngất xỉu”; “Khoảng năm mươi người được chọn đi trước, trong đó có bốn nữ”… Họ được nhắc tới, được ghi nhận, được thương yêu, nhưng không phải lúc nào cũng được gọi bằng tên riêng. Đó là đặc điểm của ký ức một thời “gian lao mà anh dũng”: cái chung thường lớn hơn cái riêng.
Nhưng nếu đọc kỹ, có thể nhận ra một mạch văn hóa: người phụ nữ ở ngôi nhà BIDV thường được giao những việc gắn với chữ “giữ”: giữ kho, giữ sổ sách, giữ tiền, giữ ký ức, giữ nề nếp tổ chức. Vì thế, “giữ” chưa bao giờ là một việc phụ.
Có một văn bản nhỏ cho thấy điều ấy từ rất sớm. Trong hồi ký, chị Đoàn Thị Son chép lại bài thơ báo tường những năm 1970, không ghi tên tác giả, viết về hai nữ cán bộ phòng máy tính Ngân hàng Kiến thiết Trung ương là chị Phùng Thị Vân Anh và chị Lưu Thị Kim Oanh: “Kìa! Tiếng kẻng báo hết giờ làm việc / Mà Chị còn mải miết với việc chung / Chị chưa về vì cảm thấy trong lòng / Rất phấn khởi khi làm xong công việc…” Bài thơ không chọn một thành tích để ca ngợi, mà chọn một khoảnh khắc: tiếng kẻng đã báo hết giờ nhưng người phụ nữ vẫn chưa về. Một người đọc đã đáp lại bằng thơ của chính mình: “Chị hiền ơi, em muốn làm như chị / Chị là người đi trước, em bước sau… / Em nguyện sẽ bước lên cùng Chị…”.
![]() |
| Ra mắt Công đoàn Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam |
Hai mươi sáu năm sau, “nhân vật” của bài thơ báo tường ấy trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị BIDV; gần ba mươi năm sau nữa, chị lại cầm bút viết về nghề của mình. Như vậy, một đời người đã đi qua ba vị thế: từ nhân vật trong thơ, đến người đứng đầu tổ chức, rồi thành tác giả tự kể chuyện nghề. Lời nguyện “em bước sau” của một cô gái vô danh, nhìn lại, chính là cách một thế hệ trao nghề, trao lửa cho thế hệ kế tiếp.
Người phụ nữ cũng không phải chờ đến khi được trao diễn đàn mới có tiếng nói. Bài thơ viết trong hang đá năm 1971 đã có trước mọi diễn đàn. Điều thời kỳ ấy còn thiếu không phải là tiếng nói của phụ nữ, mà là sự ghi nhận đầy đủ dành cho tiếng nói ấy.
Gần sáu mươi năm trước, trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất.” Những người phụ nữ Ngân hàng Kiến thiết năm ấy - người cáng thương trên Đường 9, người chong đèn dưới chụp giấy, người giữ chìa khóa kho tiền - chính là một phần của “phần xứng đáng” ấy. Bác còn dặn tiếp một điều mà các thế hệ sau phải trả lời, và đó là câu chuyện của kỳ sau.
> Đón xem KỲ 2 - DÁM: KHI CHỮ “ĐÚNG” CẦN THÊM “BẢN LĨNH”
Tin liên quan
Tin khác
MB giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
SHB lần đầu công bố Khung Tài chính Bền vững, mở rộng định hướng dòng vốn xanh và xã hội
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế
VPBank công bố kết quả kinh doanh quý III: Tăng trưởng toàn diện, vững vàng hướng tới mục tiêu cả năm
Sacombank tung gói tín dụng 40.000 tỷ đồng, giảm 2% lãi suất cho vay
Ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất hỗ trợ nền kinh tế
Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai chung sức phát huy hiệu quả tín dụng chính sách
Kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh quý III tăng gần 40%







