Rủi ro khi dựa vào dòng tiền của nhà đầu tư cá nhân

09:43 | 26/06/2020

Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Trung tâm phân tích và Tư vấn đầu tư, CTCK SSI cho biết, sau dịch bệnh, khẩu vị của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường Việt Nam vẫn rất tốt. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, yếu tố rủi ro đang ở mức khá cao khi thời gian qua chứng khoán tăng điểm chủ yếu dựa vào dòng tiền của NĐT cá nhân.

Hiện dòng tiền đầu tư trên thế giới đang dao động và chuyển hướng sang thị trường trái phiếu. Các nước lớn đi đầu trong làn sóng nới lỏng tiền tệ và tài khóa mạnh mẽ như FED (Mỹ) tuyên bố nới lỏng định lượng không giới hạn, tổng tài sản hiện đã ở mức cao lịch sử là hơn 7,1 nghìn USD và cam kết duy trì lãi suất gần 0% ít nhất tới 2022. Những nền kinh tế không thể giảm thêm lãi suất như Nhật, EU thì đều công bố các gói kích thích kinh tế cao kỷ lục (989 tỷ USD, 825 tỷ USD); Trung Quốc hạ lãi suất 2 lần và công bố gói kích thích trị giá 559 tỷ USD. Hầu như tất cả các NHTW trên thế giới đều cắt giảm lãi suất nhiều hơn 1 lần kể từ đầu năm 2020 đến nay, củng cố xu hướng giảm của lãi suất.

rui ro khi dua vao dong tien cua nha dau tu ca nhan
Ảnh minh họa

Niềm tin vào tác động tích cực từ các gói cứu trợ cộng hưởng với môi trường tiền rẻ đã khiến dòng tiền chảy vào các quỹ tiền tệ chậm lại và chuyển hướng sang trái phiếu. Có hơn +173 tỷ USD đổ vào các quỹ trái phiếu trong 10 tuần liên tiếp, trong đó tập trung nhiều trái phiếu lợi tức cao và trái phiếu doanh nghiệp Mỹ, Tây Âu, chủ yếu nhờ FED thông báo sẽ đứng ra mua lại trái phiếu doanh nghiệp lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động của tổ chức này.

Ở chiều ngược lại, căng thẳng Mỹ - Trung leo thang sau sự kiện Trung Quốc thông qua đạo luật An ninh với Hồng Kông, diễn biến giá dầu và nỗi lo làn sóng dịch bệnh thứ 2 trên toàn cầu vẫn đè nặng lên tâm lý giới đầu tư. Các quỹ cổ phiếu ghi nhận dòng tiền vào trong nửa đầu tháng 4 nhưng rút mạnh trong tháng 5 và lại quay trở lại từ đầu tháng 6 đến nay. Tính chung lại, từ tháng 4 đến nay, các quỹ cổ phiếu có dòng tiền vào là +8.8 tỷ USD nhưng phân hóa mạnh, các thị trường phát triển có +44.5 tỷ USD đổ vào trong khi các thị trường mới nổi bị rút ròng -35.8 tỷ USD (ghi nhận 17 tuần rút ròng liên tiếp).

Đặc biệt, bất chấp các công bố tăng trưởng GDP âm trong quý 1/2020 và triển vọng tồi tệ hơn trong quý 2, chỉ số chứng khoán thị trường Mỹ tăng trên 40% từ vùng đáy tháng 3; MSCI châu Âu và Nhật tăng trên dưới 25%; MSCI các thị trường mới nổi tăng hơn 30%. Số tài khoản Robinhood (Mỹ)- ứng dụng giao dịch cổ phiếu dành cho NĐT cá nhân đã tăng từ 1 triệu (2016) lên 10 triệu tài khoản, trong đó hơn 50% là những NĐT lần đầu tiên tham gia vào TTCK với tuổi đời bình quân chỉ 31 tuổi.

Đại diện của SSI cũng cho rằng, dòng tiền đầu tư tại Việt Nam cũng tăng trưởng nhờ sự tham gia mạnh mẽ của các NĐT cá nhân. TTCK Việt Nam nằm trong nhóm các thị trường giảm điểm sâu nhất trong tháng 3 “đen tối” vừa qua nhưng cũng là một trong những thị trường có mức hồi phục mạnh nhất, chỉ số VN-Index đã tăng 36% từ mức đáy 662 điểm (31/3/2020) lên 900 điểm (10/6/2020).

Dòng tiền dồi dào từ các NĐT cá nhân trong nước thúc đẩy đà tăng của chỉ số. Chỉ riêng trong 3 tháng (3-5/2020), có gần 100 nghìn tài khoản mở mới – cao đột biến trong nhiều năm trở lại đây. Trong khi dòng vốn nước ngoài của các quỹ đầu tư chủ động (active fund) đóng góp khá nhỏ bé trong đợt hồi phục này và có sự cải thiện trong những tuần gần đây. Dòng vốn các quỹ đầu tư có trở lại TTCK Việt Nam trong tháng 5 nhưng đã quay đầu rút ròng trong 2 tuần đầu tháng 6. Giao dịch của khối ngoại trên TTCK có phần cải thiện sau chuỗi bán ròng liên tiếp 3 tháng nhưng các phiên mua ròng và bán ròng vẫn đan xen. Nếu loại trừ các giao dịch đột biến liên quan đến mua/bán cổ phần tại VHM và MSN, tính từ đầu năm đến nay, khối ngoại vẫn bán ròng 17,8 nghìn tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Với các quỹ đầu tư chủ động ở Việt Nam, tỷ trọng tiền mặt của quỹ VEIL (Dragon Capital) – quỹ chủ động lớn nhất tại thị trường Việt Nam đã liên tục tăng từ đầu tháng 3 (1,31% AUM) đến giữa tháng 5 (6,38% AUM) nhưng giảm mạnh sau đó, hiện ở mức 1,84% AUM cho thấy quỹ này đã tái cơ cấu mạnh danh mục đầu tư. Một quỹ lớn khác là VOF (Vinacapital) duy trì tỷ trọng tiền mặt tại cuối tháng 5 là 5,6%, cao hơn mức 4,4%-5% của giai đoạn tháng 3 và tháng 4, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức đầu năm là 6,4% AUM. Một số quỹ khác cũng gia tăng tỷ trọng tiền mặt mạnh vào tháng 3 nhưng đã giải ngân trở lại trong tháng 4.

Ở một diễn biến khác, dòng vốn ETF có diễn biến tích cực với 943 tỷ đồng vốn tăng thêm tính từ đầu tháng 5 đến nay. Đóng góp chủ yếu là từ các quỹ ETF nội là VFMVN Diamond ETF (+1.133 tỷ đồng) và SSIAM VNFIN Lead ETF (+271 tỷ đồng). Câu chuyện về kiểm soát dịch bệnh thành công, làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam, chính sách thúc đẩy đầu tư công vẫn tạo nên sức hấp dẫn với thị trường chứng khoán Việt Nam trong dài hạn. “Chúng tôi nhận thấy sau dịch bệnh, khẩu vị của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường Việt Nam vẫn rất tốt. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, yếu tố rủi ro đang ở mức khá cao bởi thị trường tăng dựa vào dòng tiền của NĐT cá nhân trong thời gian vừa qua, có thể vào nhanh nhưng cũng rút rất nhanh khi có biến động mạnh, bà Tú nhận định.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600