Tăng trưởng năm 2019 có thể vượt mục tiêu

09:04 | 03/10/2019

Với kết quả tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm cao vượt trên các dự báo, dự kiến năm 2019 sẽ là năm thứ hai liên tiếp hoàn thành toàn diện và vượt mức toàn bộ 12 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra. Thông tin trên được Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đưa ra tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 9/2019, tổ chức chiều ngày 2/10.

Điều hành CSTT 9 tháng: Góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng
Kinh tế 9 tháng bứt tốc ngoài dự đoán
Ảnh minh họa

Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, mặc dù kinh tế thế giới đã tăng trưởng thấp nhất từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đang đứng bên bờ suy thoái; tăng trưởng của nhiều nền kinh tế giảm mạnhnhư Mỹ chỉ đạt 2%, EU 1%, Nhật Bản 0,6%, Ấn Độ 5%, Trung Quốc dưới 6%... Tuy nhiên với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, 9 tháng qua nền kinh tế đãđạt được 10 kết quả và cũng có thể coi là những thành tựu nổi bật.

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 6,98% là mức tăng trưởng cao nhất của 9 tháng trong 9 năm trở lại đây.

Thứ hai, lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 2,5%, mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua.

Thứ ba, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, nhất là khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 45,3%, tăng 16,9%. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Thứ tư, thu ngân sách Nhà nước tăng cao, với 8/12 khoản thu và nhóm các khoản thu nội địa đạt khá, thu nội địa đạt 70,3%.

Thứ năm, trong bối cảnh thương mại toàn cầu tăng trưởng thấp như hiện nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt trên 190 tỷ USD; xuất siêu lớn ước đạt 5,9 tỷ USD.

Thứ sáu, ngành công nghiệp có bước tăng trưởng khá, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là động lực chính của tăng trưởng toàn nền kinh tế. Chỉ số sản xuất 9 tháng của ngành công nghiệp tăng 9,56%, là mức tăng cao nhất trong 4 năm trở lại đây.

Thứ bảy, mặc dù nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, thách thức (dịch bệnh, hạn hán, biến đổi khí hậu) nhưng đã tập trung cơ cấu lại nội ngành theo hướng hiệu quả hơn, ngành thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá, là điểm sáng của ngành.

Thứ tám, tổng cầu tiêu dùng tiếp tục tăng mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,6%. Khách du lịch quốc tế đạt 12,9 triệu lượt người, tăng 10,8%.

Thứ chín, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt kỷ lục.

Thứ mười, các lĩnh vực về văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục được quan tâm chỉđạo. Đời sống nhân dân được cải thiện, đặc biệt tại khu vực nông thôn.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng lưu ý, bên cạnh những kết quảđạt được, phải thẳng thắn nhìn nhận còn nhiều tồn tại, hạn chế và khó khăn thách thức cần phải vượt qua. Trước hết là ngành nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thấp nhất trong 3 năm qua.

Một số dự án công nghiệp, giao thông trọng điểm tiếp tục chậm tiến độ, chưa xác định được thời gian hoàn thành. Cùng với đó, giải ngân vốn đầu tư công hiện nay còn rất chậm, không có nhiều chuyển biến, mới đạt 45,17% kế hoạch được Quốc hội thông qua, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái là 50,93%. Trong khi sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thể hiện ở số doanh nghiệp giải thể tăng 4,7% so với cùng kỳ, trong đó 40% là các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ; giá xuất khẩu bình quân của nhiều mặt hàng nông sản giảm…

Trước những khó khăn, thách thức đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho công tác điều hành trong những tháng cuối năm với tinh thần quyết tâm, kiên định thực hiện các mục tiêu đề ra.

Cụ thể, về kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, phải tạo thêm dư địa cho điều hành để ổn định vĩ mô, vận dụng chính sách linh hoạt; tăng tính chủ động và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động khó lường từ bên ngoài; tiếp tục đơn giản hóa, cắt giảm thực chất thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, coi đây là khâu đột phá thúc đẩy tăng trưởng…

Trước sự băn khoăn của báo chí về việc liệu các chỉ số kinh tế vĩ mô của 9 tháng đầu năm có phải là dấu hiệu của tăng trưởng nóng, ông Nguyễn Đức Trung - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, kết quả này là hoàn toàn phù hợp với diễn biến nền kinh tế, với các động lực của tăng trưởng được nhận diện rõ. Theo đó công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ vẫn là những động lực chính của tăng trưởng lâu nay. Bên cạnh đó, tổng đầu tư toàn xã hội tăng cao, đặc biệt khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, cho thấy hiệu quả của công tác cải thiện môi trường đầu tư.

Ông Trung cũng nhận định, từ nay đến cuối năm, các động lực duy trì tăng trưởng vẫn đến từ khu vực công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Ngoài ra, vừa qua Chính phủ đã tổ chức hội nghị thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, do đó chắc chắn trong quý IV, tình hình giải ngân tốt hơn sẽ tác động tích cực vào tăng trưởng.

“Chúng tôi tin rằng với kết quả của việc Chính phủ tích cực tạo các điều kiện, giải pháp thì tăng trưởng cả năm 2019 cơ bản đạt và vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra 6,8%”, ông Trung nhấn mạnh.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250