07:30 | 17/06/2019

Phát triển ngân hàng số: Phải tạo được niềm tin cho người dùng

Đó là nhận định của các chuyên gia tại tọa đàm “Ngân hàng số thúc đẩy phát triển những hệ sinh thái đặc thù” diễn ra cuối tuần qua, tại Hà Nội do Bizlive tổ chức...

Thời của ngân hàng số
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số: Trụ cột cho phổ cập tài chính

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia tài chính cho biết, khái niệm ngân hàng số đang bị nhiều người nhầm lẫn với khái niệm số hóa hoạt động ngân hàng truyền thống. “Ngân hàng số còn là mô hình kinh doanh mới, một cách tiếp cận mới với những giá trị mới, thay vì chỉ số hóa những thứ đã có”, ông Lực nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn của một NHTM, ông Trần Hoài Nam - Giám đốc Ngân hàng số TPBank cũng thừa nhận, với mỗi ngân hàng thậm chí với mỗi người đều tự có những định nghĩa riêng. Tuy nhiên, đối với TPBank, ngân hàng số không phải là Internet Banking hay Online Banking, không phải là công nghệ ngân hàng, cũng không phải là kênh thay thế. Mà ngân hàng số là một mô hình kinh doanh ngân hàng, bao gồm 4 trụ cột là sản phẩm mới, cách thức bán, kênh tiếp cận, cơ chế vận hành, phục vụ khách hàng và cơ chế kiểm soát rủi ro. Tất cả đều được trợ giúp bởi các nền tảng công nghệ mới.

“Ngân hàng số được cấu thành bởi ngân hàng và số, giúp phục vụ tất cả các mong muốn giao dịch trên kênh số để khách hàng không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và có thể giao dịch trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể”, ông Nam cung cấp thêm thông tin.

Nhìn nhận ngân hàng số là con đường phát triển tất yếu của các nhà băng, các diễn giả đánh giá nhiều cơ hội mở ra với ngân hàng như gia tăng doanh thu, tăng năng suất lao động và tiết kiệm chi phí; Tiếp cận thị trường khách hàng số đầy tiềm năng tại Việt Nam; Tăng khả năng tiếp cận thông tin, dữ liệu, kết nối, hợp tác nhất là với các Fintech… 

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Chiến Thắng - Giám đốc cao cấp ngân hàng số VPBank, việc phát triển ngân hàng số sẽ phải đối mặt với không ít thách thức nhưng trong đó thách thức lớn nhất chính là niềm tin, thói quen của người dân.

“Tôi cho rằng, thách thức lớn nhất chính là niềm tin, thói quen khách hàng. Tôi đã từng được tham gia buổi nói chuyện của tỷ phú Jack Ma, người sáng lập Tập đoàn Alibaba. Ông có chia sẻ rằng, trong những ngày đầu thành lập, ông đặt mục tiêu phải “phá” được thói quen cũ người dùng, xây dựng niềm tin và để làm được điều này thì phải mang lại lợi ích cho người dùng”, ông Thắng chia sẻ thêm.

Cách nào các ngân hàng Việt tạo được niềm tin của người dùng khi tiếp cận với các sản phẩm của mình? Theo ông Trần Hoài Nam, đây thực sự là một câu hỏi rất khó. Bởi những người làm ngân hàng như ông ngày nào cũng phải vắt tay lên trán để nghĩ cách tạo niềm tin khách hàng.

“Với một số DN, họ có thể tạo thói quen cho khách hàng bằng cách đưa ra một nguồn lợi ngay lập tức để khách hàng sử dụng và trải nghiệm sản phẩm dịch vụ, nói “mạnh vì gạo, bạo vì tiền” là vì vậy. Có nghĩa là, để thay đổi thói quen của khách hàng thì họ đưa ra cho khách hàng một nguồn lời, nếu khách hàng sử dụng dịch vụ A sẽ được tặng quà B. Điều này sẽ khuyến khích khách hàng sử dụng. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc chạy theo cách này thì rất khó. Theo đó, giải pháp của chúng tôi là chọn một thị trường ngách rõ ràng với một sản phẩm rõ ràng chứ không đi vào thị trường rộng”, vị này trao đổi thêm định hướng kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra, để thay đổi thói quen người dùng, ông Nam còn cho rằng, cần những “ông lớn” tạo ra làn sóng lớn để lôi kéo khách hàng.

Thách thức mà TS. Lực lưu ý nữa là cần phải tập trung giải quyết là về khung pháp lý hiện nay chưa đầy đủ và thường đi sau sự phát triển quá nhanh của công nghệ. Sự cạnh tranh từ các tổ chức phi tài chính như Fintech và Bigtech cũng sẽ tạo áp lực không ít tới ngân hàng số. Ngoài ra, các thách thức khác như khả năng bảo mật của hệ thống, nguồn nhân lực, đòi hỏi thay đổi và đầu tư lớn cho hệ thống công nghệ thông tin.

Nội dung khác liên quan đến thực trạng ngân hàng số tại Việt Nam cũng được đề cập đến là hoạt động cho vay ngang hàng đang phát triển song tiềm ẩn rủi ro. Giống như một số nước đang phát triển khác, hiện nay Việt Nam chưa có hành lang pháp lý đối với cho vay ngang hàng, nên các công ty hoạt động trong lĩnh vực này thường đăng ký là công ty tư vấn đầu tư, quan hệ cho vay vẫn được hiểu là quan hệ dân sự. Thực tế này tiềm ẩn nhiều rủi ro, hệ lụy về cả khía cạnh kinh tế cũng như xã hội đối với Việt Nam.

Mặc dù sẽ còn đối mặt với thách thức nhưng TS. Lực cho rằng ngân hàng số là cơ hội có một không hai để ngân hàng đột phá, để nền kinh tế đột phá. Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng và dịch vụ tài chính nói chung. Hiện, mới chỉ có 40% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng hiện nay. “Ngân hàng số không phải là trào lưu, đó là xu hướng phát triển tất yếu. Chính phủ đề xướng cách mạng 4.0, chả nhẽ ngân hàng lại không làm gì?”, ông Lực đặt vấn đề.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820