15:00 | 13/06/2018

Tín dụng dè chừng lạm phát

NHNN đã kiểm soát tốt tín dụng đối với vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Đến hết tháng 5, tín dụng tăng 6,16%
Điều hành thận trọng giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý
Ngân hàng Nhà nước: Mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn

Tín dụng hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng

Thời gian qua, đã có không ít ý kiến lo ngại tăng trưởng tín dụng 5 tháng đầu năm chậm hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2017. Thế nhưng khi con số tăng trưởng tín dụng chính thức được NHNN công bố hôm 11/6 đã xóa tan những lo ngại này. Cụ thể, ông Trần Văn Tần - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, tính đến 31/5, tín dụng tăng 6,16% so với cuối năm 2017, chỉ thấp hơn một chút so với mức tăng 6,53% của cùng kỳ 2017.

Tín dụng tăng trưởng hợp lý vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vừa góp phần kiềm chế lạm phát

Thậm chí nhiều chuyên gia ngân hàng còn cho rằng, con số dư nợ tín dụng tuyệt đối của 5 tháng qua còn cao hơn nhiều so với cùng kỳ khi mà mức tăng 6,16% là so sánh với một cái “nền” dư nợ tín dụng đã rất cao sau khi đã tăng tới 18,17% trong năm 2017. Hơn thế, với sự khởi sắc của nền kinh tế những tháng đầu năm, chắc chắn tốc độ vòng quay tiền tệ là nhanh hơn rất nhiều so với cùng kỳ, có nghĩa doanh số cho vay còn lớn hơn nhiều.

Thế nhưng điều mà giới chuyên môn như TS. Cấn Văn Lực ghi nhận và đánh giá cao là tín dụng tăng trưởng đều đặn ngay từ những tháng đầu năm và tập trung chủ yếu vào sản xuất kinh doanh, nhất là những lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, như dư nợ tín dụng đối với ngành nông lâm thủy sản ước tăng 6,8% và ngành xây dựng tăng 6,83%... Trong khi đó vốn chảy vào các lĩnh vực rủi ro như bất động sản, chứng khoán, BOT… nhờ được kiểm soát chặt chẽ nên giảm một nửa so với năm ngoái.

Việc kiểm soát tốt hơn dòng vốn chảy vào nền kinh tế thực chất là các lĩnh vực quan trọng đã góp phần đẩy GDP quý I tăng tới 7,38%, mức tăng cao nhất trong 10 năm qua, trong khi lại kiểm soát được lạm phát ở mức thấp.

TS. Cấn Văn Lực đánh giá, ngoài tín dụng, các chính sách khác đều được NHNN điều hành khá thành công như NHNN tiếp tục kiểm soát lạm phát tốt; tuy  tháng 5 lạm phát có tăng hơn so cùng kỳ nhưng do yếu tố phi tiền tệ không phải do chính sách tiền tệ. Thứ hai là lãi suất tương đối ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm nhẹ so với cuối năm 2017; Thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định.

Một điểm sáng nữa cũng được ông Lực ghi nhận là thị trường ngoại hối và tỷ giá tiếp tục được duy trì ổn định trong bối cảnh đồng USD trên thị trường thế giới liên tục biến động mạnh. Theo đó, so với đầu năm, tỷ giá USD so với VND chỉ tăng 0,47% trong bối cảnh đồng USD thế giới tăng giá khoảng 1,8%. Qua đó thấy rằng NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá với cơ chế tỷ giá trung tâm khá là linh hoạt, hiệu quả...

Tín dụng “căn” lạm phát

Nhìn lại kết quả hoạt động ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung trong những tháng đầu năm, nhiều chuyên gia nhận định, điều hành chính sách tiền tệ đã đạt những thành công trước những biến động kinh tế thế giới và cả áp lực từ nội tại nền kinh tế. Tuy nhiên, từ giờ đến cuối năm diễn biến kinh tế sẽ còn những biến động phức tạp.

Đặc biệt, không thể chủ quan được với lạm phát vì áp lực tăng đã hiện hữu do chịu tác động của nhiều yếu tố cả trong và ngoài nước. Đơn cử, giá cả xăng dầu, hàng hóa cơ bản tăng khá mạnh như giá dầu brent tăng từ đầu năm đến giờ tăng khoảng 24%; chủ nghĩa bảo hộ cùng hàng rào thuế quan cũng sẽ khiến giá nhiều loại hàng hóa tăng; rồi lộ trình thắt chặt của nhiều NHTW lớn trên thế giới như Fed, ECB... Trong nước, tổng cầu phục hồi dẫn đến lạm phát sẽ cao hơn, trong khi một số mặt hàng cơ bản tiếp tục lộ trình tăng giá, lương cơ bản cũng tăng... Tất cả những điều đó sẽ tạo áp lực lớn đến lạm phát.

Trong bối cảnh đó, việc điều hành chính sách tiền tệ cần phải linh hoạt, thận trọng trong mọi chỉ tiêu nhất là chỉ tiêu tín dụng cần phải dè chừng lạm phát. Bên cạnh đó, xu thế thắt chặt tiền tệ tại các nền kinh tế lớn trên thế giới cũng tạo áp lực lớn đến điều hành chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.

“Nên thận trọng với tăng trưởng tín dụng, có thể không cần sử dụng hết room 17% mà chỉ tăng ở mức 15%, nhưng dòng vốn đảm bảo được kiểm soát vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vừa không gây áp lực lên lạm phát”, TS. Nguyễn Trí Hiếu đề xuất.

Đồng tình quan điểm không nhất thiết phải tăng bằng được mức 17%, TS. Cấn Văn Lực cũng đưa ra bốn lý do không nên gây áp lực lên cung tín dụng. Một là tín dụng chỉ là một trong ba dòng vốn chảy vào nền kinh tế. Hai là vốn cũng chỉ là một trong ba yếu tố để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngoài yếu tố lao động và năng suất kinh tế tổng hợp. Ba là tín dụng tăng ở mức 17% trong khi vốn chủ sở hữu của các NH không tăng được mức tương ứng thì ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số CAR bị giảm thấp. Như thế khiến cho đáp ứng chuẩn Basel 2 đến năm 2019-2020 càng khó khăn...

Để giảm sức ép cung tiền đồng thời kiểm soát lạm phát cơ bản tốt, TS. Lực đề xuất, ngoài kênh tín dụng, các kênh vốn khác cũng cần được kiểm soát đảm bảo nguồn vốn đổ vào nền kinh tế phát huy hiệu quả hỗ trợ tăng trưởng.

TS. Lê Xuân Nghĩa cũng hết sức lưu ý đến việc cải thiện tốc độ tăng trưởng các yếu kinh tế tiềm năng của kinh tế Việt Nam như công nghệ, năng suất lao động, chuỗi giá trị lao động mà không cần dựa quá nhiều các biện pháp kích thích từ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để tránh những bất ổn vĩ mô dài hạn.

Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng: Hỗ trợ tăng trưởng, nhưng không chủ quan lạm phát

Những con số chỉ tiêu tiền tệ đã đạt được trong vòng 6 tháng đầu năm, đã phản ánh đúng, trúng với những chỉ tiêu định hướng, chỉ đạo điều hành của Thống đốc NHNN thông qua Chỉ thị 01, cũng như kế hoạch triển khai giải pháp ngay từ đầu năm.

Từ nay đến cuối năm 2018 kinh tế thế giới cũng như trong nước tiếp tục có diễn biến thuận lợi đan xen khó khăn thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ của NHNN cũng như hoạt động ngân hàng. Với những diễn biến như vậy, từ giờ đến cuối năm, NHNN vẫn tiếp tục điều hành theo chỉ tiêu định hướng đề ra từ đầu năm và phối hợp đồng bộ các công cụ giải pháp với liều lượng cũng như thời điểm hợp lý. Đặc biệt, NHNN tập trung vào điều tiết tiền tệ, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra. NHNN chủ trương điều hành chính sách tiền tệ theo hướng phù hợp và tạo dư địa điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý và góp phần đạt được mục tiêu lạm phát bình quân ở mức 4%.

NHNN thực hiện các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với diễn biến lạm phát. Theo định hướng NHNN đề ra từ đầu năm, các TCTD tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát dòng vốn vào lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.830 22.900 26.283 26.597 30.787 30.264 203,56 208,91
BIDV 22.830 22.900 26.352 26.586 29.979 30.244 206,17 208,00
VietinBank 22.823 22.903 26.214 26.592 29.727 30.287 204,78 208,18
Agribank 22.825 22.900 26.262 26.581 29.812 30.231 204,93 208,11
Eximbank 22.820 22.910 26.261 26.603 29.887 30.276 205,22 207,89
ACB 22.840 22.910 26.281 26.609 29.984 30.283 205,38 207,95
Sacombank 22.837 22.910 26.300 26.663 29.950 30.313 205,63 208,71
Techcombank 22.810 22.910 26.015 26.720 29.550 30.370 204,20 209,51
LienVietPostBank 22.820 22.910 26.215 26.661 29.929 30.334 205,13 208,77
DongA Bank 22.840 22.910 26.290 26.610 29.890 30.270 204,10 208,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
35.750
36.150
Vàng nữ trang 9999
35.400
36.100