Bán tín chỉ carbon rừng: Tiềm năng không dễ khai thác

10:28 | 18/03/2022

Việc chuẩn bị và hướng tới thị trường carbon tự nguyện sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống quản lý hành chính cũng như bán được carbon trong khi các thỏa thuận quốc tế về thị trường bắt buộc còn đang được thảo luận chưa đi đến thống nhất

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), mỗi năm Việt Nam có thể bán ra thị trường thế giới 57 triệu tín chỉ carbon và nếu tính theo giá 5 USD/tín chỉ, thì mỗi năm có thể thu về hàng trăm triệu USD. Không chỉ vậy, hiện nay, Việt Nam đang theo đuổi mô hình tăng trưởng xanh đồng thời với cam kết giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050 sẽ tạo ra quy mô thị trường carbon rất lớn, trị giá hàng tỷ USD, mở ra một ngành kinh doanh mới. Tuy nhiên để những tính toán trên trở thành hiện thực đòi hỏi nhiều hỗ trợ từ các cơ quan hữu quan về mặt cơ chế, chính sách để khai thác tối đa tiềm năng của lĩnh vực.

ban tin chi carbon rung tiem nang khong de khai thac
Ảnh minh họa

Hiện Quảng Nam đang là tỉnh duy nhất được Chính phủ đồng ý lập đề án thí điểm kinh doanh tín chỉ carbon (CO2) rừng với thời gian thí điểm dự án 5 năm (2021-2025). Theo đề án, UBND tỉnh Quảng Nam sẽ dự tính xuất khẩu 5,2 triệu tín chỉ carbon rừng trong giai đoạn (2021-2025). Giá bán ít nhất 5 USD/tấn CO2, mang lại cho tỉnh Quảng Nam với nguồn thu từ 110 tỷ đến 130 tỷ đồng/năm, cao hơn với nguồn thu dịch vụ môi trường rừng, bằng 2-2,5 lần đầu tư ngân sách hàng năm của Trung ương và địa phương vào lâm nghiệp.

Nếu đề án được triển khai hiệu quả thì cũng sẽ giúp tỉnh Quảng Nam giữ nguyên 466.113 ha diện tích rừng tự nhiên hiện có, trong vòng 10 năm từ 2021 - 2030 sẽ tăng lên 20%, vào năm 2025 sẽ tăng lên khoảng 61% độ che phủ rừng. Sản lượng 50.5864 ha thực hiện vào việc trồng rừng, phục hồi rừng và làm giàu rừng sẽ đạt khoảng 7 triệu/m3 gỗ vào năm 2030, làm giảm phát thải 14,17 triệu tấn CO2 từ rừng vào năm 2030.

Tín chỉ carbon là một thuật ngữ chung cho tín chỉ có thể kinh doanh hoặc giấy phép đại diện cho một tấn carbon dioxide (CO2) hoặc khối lượng của một khí nhà kính khác tương đương với một tấn CO2 (tCO2e).

Theo chuyên gia, việc phát triển thị trường carbon sẽ giúp tạo ra sinh kế của người dân, chủ rừng và đồng thời thực hiện mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng. Trong tương lai rất gần, sẽ có những người dân, nhóm hộ gia đình, hợp tác xã vùng rừng núi kinh doanh thương mại, môi giới đầu tư tín chỉ carbon rừng, tạo ra bước phát triển chưa từng có trong lâm nghiệp.

TS. Trần Đại Nghĩa - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng đã đến lúc cần phải thay đổi cách nhìn, quan điểm về giá trị kinh tế của rừng. Thực tế, rừng không chỉ có giá trị ở gỗ, lâm sản, cảnh quan mà còn có thể khai thác giá trị bảo tồn và cả tín chỉ carbon. Tiềm năng của thị trường tín chỉ carbon là rất lớn nhưng mới chỉ ở giai đoạn thí điểm, cần phải có kế hoạch cụ thể để giữ rừng, làm giàu rừng, tăng hấp thụ carbon rừng, đảm bảo có “hàng” để đem bán và đạt được mục tiêu tham gia thị trường này một cách mạnh mẽ hơn.

Đồng thời, đi đôi với những cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải khí nhà kính, các nhà hoạch định chính sách cần tạo ra cơ sở pháp lý, thúc đẩy thị trường carbon minh bạch hoá, khuyến khích các chủ rừng tham gia bảo vệ, làm giàu rừng. Đặc biệt, cần có các chính sách về quyền carbon như quyền sở hữu lượng carbon tích luỹ của rừng; quyền chuyển giao, chuyển nhượng, mua bán và quyền hưởng lợi, từ đó mới thúc đẩy được bảo vệ rừng gắn với tạo giá trị kinh tế. Bên cạnh đó, cần tạo kênh đàm phán, thương mại, thúc đẩy thị trường này.

Thực tế thị trường tín chỉ carbon rừng mới chỉ ở giai đoạn phát triển ban đầu tại Việt Nam và vẫn còn những lúng túng nhất định trong triển khai. Một trong những câu hỏi được đặt ra đó là Việt Nam nên hướng tới thị trường carbon bắt buộc hay tự nguyện. Báo cáo của Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) được công bố gần đây cho thấy, trong tương lai các quốc gia đều phải phát triển và hướng tới cả hai thị trường này. Việc chuẩn bị và hướng tới thị trường carbon tự nguyện sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống quản lý hành chính cũng như bán được carbon trong khi các thỏa thuận quốc tế về thị trường bắt buộc còn đang được thảo luận chưa đi đến thống nhất. Ngoài ra, các dự án của ngành lâm nghiệp liên quan trồng mới rừng, tái trồng rừng và giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng thường dễ dàng thực hiện hơn, có nhu cầu lớn hơn và có nhiều người mua hơn trong thị trường carbon tự nguyện.

Việc tham gia vào thị trường cũng là yếu tố bắt buộc để Việt Nam và các nước đạt được mục tiêu đề ra của Thỏa Thuận Paris cũng như giúp Việt Nam tiếp cận với nguồn tài chính quốc tế. Tuy nhiên điều này đòi hỏi Việt Nam phải có sự nhất quán về phương pháp và quy trình quốc tế thông qua bởi các bên tham gia thỏa thuận Paris, đồng thời xây dựng quy trình chính sách mới như các nước đã xây dựng với thị trường carbon nội địa bắt buộc của mình. CIFOR khuyến nghị, trong khi chờ quốc tế thống nhất về "luật chơi" của Điều khoản 6 trong Thỏa thuận Paris, Việt Nam nên ưu tiên phát triển dự án và kêu gọi đầu tư vào các dự án hướng tới thị trường carbon tự nguyện. Ngoài ra Việt Nam cần xem xét để hỗ trợ cả hai mô hình hàng hóa carbon: hạn mức phát thải và bồi hoàn carbon bởi mỗi loại hàng hóa này đều có lượng lớn người mua tiềm năng đang tìm kiếm trên thị trường trong và ngoài nước.

Hà Chi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850