HSG công bố lợi nhuận đạt 361 tỷ đồng

20:47 | 30/10/2019

Tập đoàn Hoa Sen (HSG) vừa công bố kết quả kinh doanh hợp nhất quý IV niên độ tài chính 2018 - 2019 (từ 1/7/2019 đến 30/9/2019). Theo đó, lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý IV đạt 84 tỷ đồng và lũy kế niên độ tài chính 2018 - 2019 đạt 361 tỷ đồng.

HSG đặt nhiệm vụ trọng tâm trong niên độ tài chính 2018 - 2019 là cân đối lại cơ cấu tài chính

Cụ thể, doanh thu thuần quý IV của HSG đạt 6.350 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu giảm nhưng lợi nhuận gộp của HSG tăng 107 tỷ đồng, tương đương 15%, từ mức 724 tỷ đồng tăng lên 831 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu là do HSG chủ động tái cơ cấu sản phẩm, tập trung vào những thị trường, mặt hàng có biên lợi nhuận cao, mức lợi nhuận gộp biên đã tăng từ mức 8,45% lên mức 13,09% so với cùng kỳ nên dù doanh thu thuần có giảm nhưng lợi nhuận gộp của HSG vẫn tăng.

Nhiều loại chi phí cũng giảm đi đáng kể, đáng chú ý nhất là chi phí tài chính giảm 152 tỷ đồng, tương đương 43%, trong đó chi phí lãi vay giảm 49 tỷ đồng, tương đương 21%.

Việc này xuất phát từ việc HSG giảm lượng hàng tồn kho, làm giảm dư nợ vay ngân hàng dẫn đến giảm chi phí lãi vay. So với đầu niên độ tài chính 2018 - 2019, hàng tồn kho của HSG đã giảm 2.192 tỷ đồng.

Đồng thời, việc tái cấu trúc hệ thống phân phối thành công cũng làm giảm đáng kể chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng. Cụ thể chi phí quản lý doanh nghiệp quý IV giảm 15 tỷ đồng, tương đương 10% và chi phí bán hàng giảm 77 tỷ đồng, tương đương 16% so với cùng kỳ.

Kết quả kinh doanh quý IV niên độ tài chính 2018 - 2019 ghi nhận lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 101 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 84 tỷ đồng.

Tổng kết niên độ tài chính 2018 - 2019, HSG đạt 28.034 tỷ đồng doanh thu, giảm 19% và 361 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế hợp nhất, giảm 12% so với niên độ tài chính 2017 - 2018.

Trao đổi với chúng tôi, đại diện HSG cho biết nguyên nhân chính của việc sụt giảm này là do sản lượng bán hàng giảm. Cụ thể, trong niên độ tài chính 2018 - 2019, tổng sản lượng bán hàng của HSG đạt 1.489.200 tấn, giảm 20% so với niên độ tài chính 2017 - 2018.

Nguyên nhân do thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu đều gặp nhiều khó khăn. Tại thị trường nội địa các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt với nhau do cung lớn hơn cầu. Trong khi đó thị trường xuất khẩu chịu tác động bởi xu hướng bảo hộ thương mại của các quốc giá trên thế giới.

Đồng thời, một nguyên nhân quan trọng khác là chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã làm cho giá HRC giảm đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp.

HSG cũng đặt nhiệm vụ trọng tâm trong niên độ tài chính 2018 - 2019 là cân đối lại cơ cấu tài chính. Kết quả, dư nợ ngân hàng bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn vào cuối niên độ tài chính 2018 - 2019 là gần 9.700 tỷ đồng, đã giảm gần 4.650 tỷ đồng so với đầu niên độ tài chính. Điều này góp phần làm cho chỉ số nợ vay ngân hàng/vốn chủ sở hữu giảm mạnh từ mức 2,78 lần xuống còn 1,77 lần.

Dư nợ ngân hàng giảm cũng làm cho cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu của HSG cải thiện đáng kể từ mức 3,13 lần ở đầu niên độ giảm còn 2,13 lần ở cuối niên độ tài chính 2018 - 2019.

Xét trong bối cảnh ngành thép Việt Nam gặp nhiều khó khăn, kết quả kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp tôn thép đều sụt giảm đáng kể, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, cắt giảm sản xuất thì kết quả kinh doanh của HSG duy trì ở mức có lãi đã cho thấy nhiều dấu hiệu tích cực.

Như vậy, sau 1 năm thực hiện tái cấu trúc hệ thống phân phối theo mô hình chi nhánh tỉnh, cân đối lại cơ cấu tài chính, quản lý hàng tồn kho chặt chẽ, giảm các khoản phải thu, tập trung vào các thị trường và sản phẩm có biên lợi nhuận cao thì Hoa Sen đã chuẩn bị các điều kiện và nền tảng tốt nhất để sẵn sàng vượt qua những khó khăn, nắm bắt các cơ hội trong thời gian tới.

Môi trường kinh doanh ngành thép trong nước cũng bắt đầu có những dấu hiệu tích cực hơn. Bộ Công Thương Việt Nam vừa ban hành mức thuế chống bán phá giá với sản phẩm tôn màu nhập khẩu Trung Quốc 2,53% - 34,27% và Hàn Quốc là 4,71% - 19,25%, có hiệu lực từ ngày 24/10/2019.

Nhiều nhận định cho rằng, việc này sẽ trực tiếp tác động rất tích cực đến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh tôn màu, đặc biệt là những doanh nghiệp có hệ thống phân phối bán lẻ rộng khắp và thị phần lớn như HSG.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), thị phần của HSG hiện đang đứng đầu và cách biệt lớn so với các doanh nghiệp sản xuất tôn mạ kim loại và sơn phủ màu tại Việt Nam với hơn 32% thị phần. HSG đã đầu tư hoàn thiện hệ thống sản xuất 10 nhà máy đặt tại cả ba miền Bắc - Trung - Nam và hệ thống 536 cửa hàng trực thuộc trên toàn quốc, điều này giúp HSG giảm được chi phí vận chuyển, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu khách hàng, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Đây sẽ là nền tảng giúp HSG phát triển trong dài hạn.

PV

Nguồn:

Tags: HSG Hoa sen Thép

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.654 22.866 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.000
58.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.000
58.700
Vàng SJC 5c
58.000
58.720
Vàng nhẫn 9999
51.500
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.100
51.900