NHNN sẽ sớm có thông báo về phân bổ hạn mức tín dụng còn lại năm 2022

00:02 | 07/09/2022

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú đã trả lời các câu hỏi của báo chí về vấn đề điều hành lãi suất và tăng trưởng tín dụng.

Về điều hành lãi suất, Phó Thống đốc thông tin, lạm phát cao và lo ngại rủi ro lạm phát khiến rất nhiều nước phải tăng lãi suất để chống lạm phát. Như tại Mỹ, Fed đã nâng lãi suất liên tục 4 lần và lãi suất hiện nay đã lên mức 2,25-2,5%, với tổng mức tăng là 2,25%. NHTW châu Âu (ECB) gần đây cũng đã tăng lãi suất 0,5% dù 11 năm vừa qua duy trì tình trạng lãi suất âm. Nhiều quốc gia khác cũng tăng lãi suất.

Tại Việt Nam, câu chuyện lạm phát cũng rất đáng quan tâm và Chính phủ thường xuyên có các chỉ đạo. Trong các tháng 7 và tháng 8 vừa qua, nhờ giá xăng giảm, lạm phát tăng không nhiều nhưng các áp lực vẫn rất lớn. Vì vậy việc điều hành lãi suất lúc này được tính toán một cách rất chặt chẽ, cẩn trọng.

nhnn se som co thong bao ve phan bo han muc tin dung con lai
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú trả lời các câu hỏi của báo chí về vấn đề điều hành lãi suất và tăng trưởng tín dụng

Năm 2021 và đặc biệt là năm 2022 này, đáng nhẽ phải tăng lãi suất rất cao nhưng NHNN duy trì lãi suất điều hành ổn định. Nếu xét ở góc độ tương đối trong so sánh với tương quan các nước (đang phải tăng lãi suất rất mạnh để đối phó với lạm phát hiện nay) thì thực tế này cho thấy chúng ta đang giảm lãi suất điều hành. Điều này tạo điều kiện cho các NHTM tiếp cận nguồn vốn với giá hợp lý, rẻ hơn.

Vấn đề nữa đặt ra là để đáp ứng cùng lúc nhiều yêu cầu, mục tiêu (vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục nhanh sau dịch), NHNN phải tiếp tục điều hành lãi suất linh hoạt, đảm bảo hài hòa được các mục tiêu đó.

Vì thế, đối với các NHTM thời gian qua lãi suất có biến động tăng nhẹ, kể cả lãi suất huy động và cho vay (lãi suất huy động tăng 0,25%; cho vay là 0,24%). Hiện lãi suất cho vay bình quân là 7,9-9,3%, kể cả dư nợ cũ và mới; lãi suất huy động bình quân là 6,3-6,8% kỳ hạn dưới 1 năm. Điều này cho thấy mức lãi suất cho vay này so với những năm gần đây duy trì ở mức khá ổn định.

Tuy nhiên để giải quyết câu chuyện vừa kiểm soát lạm phát, vừa đảm bảo khôi phục kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện còn nhiều khó khăn thì NHNN đã tích cực thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, sẽ cùng Hiệp hội Ngân hàng tiếp tục chỉ đạo, vận động các NHTM tiết giảm chi phí, bằng các nguồn lực của mình để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn trong thời gian tới.

Về vấn đề hạn mức tín dụng, xác định ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát là điều kiện quan trọng để kinh tế phát triển nên từ đầu năm chúng ta đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP 6-6,5%; lạm phát khoảng 4%.

Trên cơ sở các mục tiêu này, NHNN đặt ra mức tăng trưởng tín dụng khoảng 14%, tùy điều kiện thực tế để có sự linh hoạt. Và để thực hiện việc tính toán này thì ngay từ đầu năm - trong điều kiện kinh tế khi đó chưa có nhiều biến động, nhất là về giá cả, giá xăng dầu… thì mức 14% này đã tính toán tương đối đầy đủ, và đầu năm cũng giao chỉ tiêu hạn mức cho các tổ chức tín dụng triển khai.

Hiện mức tăng trưởng tín dụng 9,91% là cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Và mức 9,91% là đã sử dụng hết hạn mức đầu năm giao. “Phần còn lại NHNN sẽ tiếp tục giao trong một vài ngày tới và NHNN sẽ có thông báo cho các tổ chức tín dụng”, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450