Phát triển năng lượng bền vững: Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là chính sách

11:10 | 21/04/2021

Xu thế và hiệu quả của việc phát triển năng lượng xanh, NLTT đã rõ. Song nút thắt lớn nhất để chuyển đổi năng lượng bền vững được các chuyên gia chỉ ra là vốn và công nghệ. Hai yếu tố này trong nước đều không đáp ứng được vì vậy việc tạo lập chính sách thu hút đầu tư được xem là giải pháp trọng yếu.

Phát triển năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (NLTT) là xu hướng phát triển tất yếu trên thế giới cũng là yếu tố quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu kinh tế xanh và tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong bối cảnh, nguồn vốn ngân sách hạn hẹp và yếu về công nghệ, thế mạnh lớn nhất của Việt Nam để thu hút đầu tư phát triển lĩnh vực này chính là tạo ra cơ chế chính sách hấp dẫn. Đây là khuyến nghị được các chuyên gia chỉ ra tại Diễn đàn phát triển năng lượng xanh, năng lượng sạch, NLTT trong xu thế dịch chuyển dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do Tạp chí năng lượng sạch Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức.

phat trien nang luong ben vung loi the lon nhat cua viet nam la chinh sach
Điện mặt trời áp mái đang phát triển mạnh tại nhiều địa phương

Không còn đường lui

Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 “Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn NLTT, năng lượng mới, năng lượng sạch…”; tỷ lệ các nguồn NLTT trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% vào năm 2030; 25-30% vào năm 2045. Trước đó chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 2068/QĐ-TTg) đã đặt mục tiêu chiến lược phát triển NLTT góp phần thực hiện các mục tiêu môi trường bền vững và phát triển nền kinh tế xanh: Giảm phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng so với phương án phát triển bình thường (khoảng 5% vào năm 2020; 25% vào năm 2030; 45% vào năm 2050); giảm nhập khẩu nhiên liệu cho mục đích năng lượng: giảm khoảng 40 triệu tấn than và 3,7 triệu tấn sản phẩm dầu vào năm 2030; giảm khoảng 150 triệu tấn than và 10,5 triệu tấn sản phẩm dầu vào năm 2050…

Phân tích của TS. Nguyễn Ngọc Hưng cho thấy sự đa dạng hóa trong nguồn cung năng lượng sơ cấp đang giảm dần. Giai đoạn 2010-2019 chứng kiến sự sụt giảm mạnh mẽ của năng lượng phi thương mại trong cơ cấu tổng năng lượng sơ cấp từ 13,7% năm 2010 xuống còn 4,9% năm 2015 và đến năm 2019 ước tính chỉ còn 1%. NLTT, với thủy điện làm nòng cốt, cũng có sự gia tăng trong cơ cấu tổng cung, từ 11% năm 2010 lên 14,7% năm 2015 và 16,3% vào năm 2018. Nhưng đến năm 2019 NLTT giảm xuống chỉ còn 13,9% mặc dù năm này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của điện mặt trời. Sự thay đổi đáng kể nhất là than. Năm 2010, than chỉ chiếm 28,1% cơ cấu và duy trì ở mức độ tương đương trong mấy năm kế tiếp. Tuy nhiên sau 2015 chứng kiến sự gia tăng đáng kể của loại nhiên liệu này trong tổng cung, lên 43,3% năm 2018 và kỷ lục 49,1% năm 2019. “Việc phụ thuộc cao vào 1-2 loại năng lượng ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn”, ông Hưng chỉ ra.

Bà Ngụy Thi Khanh - Giám đốc điều hành xanh, Trung tâm phát triển sáng tạo Xanh (GreenID) cho biết kết quả nghiên cứu toàn cầu chỉ ra những lợi ích của NLTT (Việc làm, chi phí ngoại sinh...) lớn hơn so với chi phí chuyển dịch hệ thống năng lượng. Còn tiềm năng lớn cho việc kết hợp các ngành (Điện tái tạo kết hợp cấp nhiệt/giao thông) và tích trữ. Tạo thị trường cho sự tham gia của các tập đoàn tư nhân trong nước và hàng trăm doanh nghiệp vừa và nhỏ vào sản xuất điện năng lượng mặt trời có thể được khai thác mà không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp và không nhất thiết phải thu hồi đất thậm chí tăng hiệu suất sử dụng đất, có thể lên đến 60% và gia tăng thêm nguồn thu nhập cho người nông dân.

Thời kỳ của hành động

Xu thế và hiệu quả của việc phát triển năng lượng xanh, NLTT đã rõ. Song nút thắt lớn nhất để chuyển đổi năng lượng bền vững được các chuyên gia chỉ ra là vốn và công nghệ. Hai yếu tố này trong nước đều không đáp ứng được vì vậy việc tạo lập chính sách thu hút đầu tư được xem là giải pháp trọng yếu.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Trinh - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhận định, đây là giai đoạn của hành động. Trong đó cần tiếp tục thực hiện các mục tiêu và triển khai các giải pháp trong Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam. Đồng thời hoàn thiện quy hoạch điện VIII và Quy hoạch tổng thể về năng lượng nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, sử dụng hiệu quả năng lượng và xác định tỷ trọng NLTT hợp lý trong cơ cấu năng lượng/điện; Tiếp tục thực hiện Chương trình Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả giai đoạn 2021-2030 (QĐ 280). Đặc biệt bà Trinh cùng nhiều chuyên gia khuyến nghị cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho NLTT với việc xây dựng Luật NLTT và điều chỉnh Luật Điện lực nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào hạ tầng năng lượng dùng chung, tạo lập nguồn tiếp cận tài chính bền vững đầu tư vào năng lượng sạch (NLTT và TKNL), xây dựng các thị trường năng lượng cạnh tranh nâng cao hiệu quả hoạt động…

Bà Trinh đề xuất cần xây dựng các chính sách tạo ra sự cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia dự án. Trong đó, Chính phủ cần có các gói ưu đãi dành cho doanh nghiệp nước ngoài, đàm phán theo dự án, tăng cường đàm phán thu hút từ nguồn đầu tư công từ các nước. Đồng thời việc xây dựng thiết kế dự án cần phải hấp dẫn cả đầu tư tư nhân chính phủ và các nguồn lực khác. Đồng thời cần đưa ra cơ cấu tài chính trong dự án năng lượng hợp lý cũng như lựa chọn loại hình đầu tư phù hợp. “Loại dự án nào cung cấp cho doanh nghiệp nào cũng là một sự tinh anh của chính sách”, PGS-TS. Trần Đình Thiên cũng có chung quan điểm khi đề xuất các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng.

Các chuyên gia cũng cho rằng doanh nghiệp cần tự nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình để có thể tham gia, liên kết đầu tư... Nhìn ở góc độ lợi ích, bà Khanh đề xuất xây dựng cơ chế về giá FIT dựa theo mức công suất và có lộ trình cho từng giai đoạn thay vì một mức giá FIT chung, hấp dẫn nhưng không có phanh để kiểm soát đầu tư. Đồng thời cần tiếp tục tuyên truyền, chuyển đổi nhận thức của cả cộng đồng, chỉ ra cơ hội cũng như thách thức cho doanh nghiệp trong nước để họ nắm bắt.

Nhất Thanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.150 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.945 23.145 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.939 23.149 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.950 23.130 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.950 23.130 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.950 23.162 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.942 23.142 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.950 23.130 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.970 23.130 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.050
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.050
56.400
Vàng SJC 5c
56.050
56.420
Vàng nhẫn 9999
52.300
52.900
Vàng nữ trang 9999
51.900
52.600