Thận trọng với rủi ro trong trung hạn

10:04 | 24/01/2022

Lạm phát cao đã buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải đảo chiều chính sách tiền tệ sang thắt chặt, tăng lãi suất để ứng phó. Trong khi Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn, nên nguy cơ nhập khẩu lạm phát cũng rất cao. Điều đó sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Những tuần giáp Tết Nguyên đán và đầu năm mới là thời điểm vàng để các ngân hàng tăng cường huy động vốn. Bởi đây là lúc cả người dân và doanh nghiệp để lượng tiền tạm nhàn dỗi khá lớn, trước khi bước vào “năm tài chính” theo lịch mặt trăng.

BIDV tranh thủ chào bán trái phiếu mệnh giá 100.000 đồng/trái phiếu với các kỳ hạn 7 năm, 8 năm và 10 năm cho khách hàng cá nhân, với lãi suất huy động lên tới 6,5%/năm cùng một chương trình quà tặng bằng tiền mặt có tổng trị giá hơn 9 tỷ đồng. Đây là mức lãi suất hấp dẫn so với mặt bằng lãi suất huy động hiện nay.

than trong voi rui ro trong trung han
Ảnh minh họa

Ở khối các NHTMCP cũng đang rầm rộ triển khai nhiều chương trình tặng quà, lì xì đầu năm, quay số trúng thưởng vàng, tặng hàng hóa có giá trị lớn dành cho khách hàng gửi tiết kiệm. Một số NHTMCP điều chỉnh tăng lãi suất huy động như một lợi thể cạnh tranh trước những hàng xóm lớn – ngân hàng có uy tín và thương hiệu lớn hơn.

Có thể nói lãi suất huy động đang nhích tăng so với tháng trước, nhưng chỉ mang tính thời vụ. Lý do là các TCTD đang tranh thủ huy động vốn nhằm chuẩn bị lượng vốn cung ứng khi cầu tín dụng tăng khi nền kinh tế phục hồi sau khi dịch bệnh được kiểm soát, cả nước chuyển sang giai đoạn thích ứng linh hoạt, an toàn; trong khi Quốc hội cũng đã thông qua Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế giai đoạn 2022-2023.

Không chỉ giới chuyên gia trong nước, các tổ chức tài chính quốc tế cũng đưa ra dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của WB công bố ngày 13/1, GDP Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 với tăng trưởng GDP dự báo tăng lên 5,5%. Hay theo dự báo của Ngân hàng Standard Chartered, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,7%...

Tuy nhiên hiện lạm phát đang có xu hướng tăng cao trên toàn cầu. Chẳng hạn lạm phát tại Canada trong tháng 12/2021 đã tăng vọt lên mức 4,8%, mức cao nhất kể từ năm 1991. Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) vừa công bố số liệu sơ bộ cho thấy tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã tăng lên mức cao kỷ lục 5% trong tháng 12/2021, so với cùng kỳ năm 2020. Một số nước có tỷ lệ lạm phát rất cao như Estonia cao nhất với 12%, Lithuania với 10,7%, Latvia 7,7%, Tây Ban Nha 6,7%, Bỉ 6,5%, Hà Lan 6,4%, Đức 5,7%.

Lạm phát cao đã buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải đảo chiều chính sách tiền tệ sang thắt chặt, tăng lãi suất để ứng phó. Trong biên bản cuộc họp được công bố đầu tháng 1/2022 Fed đã bày tỏ lo ngại về khả năng giá sẽ tiếp tục theo xu hướng tăng trên quy mô toàn cầu do đứt gãy chuỗi cung ứng và ảnh hưởng tiêu cực từ biến chủng mới của dịch Covid-19. Trước đó, 10 trong số 18 thành viên Ủy ban Thị trường mở của Fed đã đưa ra dự kiến Fed sẽ tăng lãi suất ba lần trong năm 2022.

Trong khi Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở lớn, nên nguy cơ nhập khẩu lạm phát cũng rất cao. Điều đó sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Bởi để kiềm chế lạm phát, cần phải thắt chặt lại tiền tệ; thế nhưng điều này lại ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng. Trong khi nếu nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, lại lo tạo thêm áp lực đến lạm phát.

Lạm phát cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các TCTD bởi khi lạm phát tăng họ sẽ phải tăng lãi suất huy động nhằm đảm bảo lãi suất thực dương và đủ sức hấp dẫn đối với người gửi tiền trước những kênh đầu tư khác đang khá sôi động. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất cho vay nhiều khả năng sẽ duy trì như hiện nay, thậm chí có thể còn giảm thêm theo chủ trương của Chính phủ, NHNN để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Điều đó có nghĩa, các ngân hàng sẽ phải xoay sở trong biên độ NIM ngày càng thu hẹp.

Trong khi việc kéo dài thời gian hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19 theo Thông tư 14/2021/TT-NHNN sẽ tác động mạnh hơn đến hoạt động ngân hàng do có độ trễ. Theo tính toán của NHNN, nếu tính cả dư nợ của khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu khoảng 7,31%. Điều này khó đảm bảo thực hiện được mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, tác động tiêu cực, trực tiếp đến chất lượng tài sản và năng lực tài chính của các TCTD.

Chưa kể, việc kéo dài thời gian cơ cấu lại thời hạn trả nợ (thực chất đã biến các khoản cho vay ngắn hạn thành trung dài hạn cũng như tạm thời không ghi nhận mức độ rủi ro thực tế của khách hàng), cũng sẽ tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân hàng trong trung hạn.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700