banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 9/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.629 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.398/26.860 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Tín chỉ carbon: “Tiền tệ xanh” của tương lai

Ngọc Ánh
Ngọc Ánh  - 
Theo bà Betty Palard CEO Công ty ESGs & Climate Consulting, chuyên gia quốc tế về tài chính carbon, thị trường tín chỉ carbon đang nhanh chóng chuyển mình thành một dạng tài sản tài chính phái sinh, vừa mang đặc điểm của sản phẩm môi trường, vừa là công cụ đầu tư mang giá trị dài hạn. Điều khiến tín chỉ carbon trở thành một loại “tiền tệ đặc biệt” là vì nó giao thoa giữa 3 lĩnh vực: thiên nhiên, tài chính, đất đai.
aa
Khai thác tiềm năng tín chỉ carbon từ biển Việt Nam tăng tốc xây dựng thị trường carbon

“Cuộc chơi về tín chỉ carbon là của Việt Nam”

Nhận định này của bà Betty Palard dựa trên việc Việt Nam đang sở hữu 3 lợi thế chiến lược để tham gia sâu vào thị trường tín chỉ carbon toàn cầu. Thứ nhất, năng lực toán học vượt trội của người Việt đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao trong đo đạc, giám sát tín chỉ carbon. Thứ hai, vốn kiến thức bản địa và mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên từ bao đời nay-điều mà bà cho là khác biệt rõ rệt so với nhiều quốc gia phát triển. Cuối cùng, với cấu trúc kinh tế đặc thù, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, nơi 92% nền kinh tế dựa vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nền tảng phù hợp để triển khai các mô hình tín chỉ carbon phân tán, linh hoạt thay vì phụ thuộc vào các dự án tập trung quy mô lớn như tại các nền kinh tế công nghiệp hóa.

Dựa trên cơ chế hấp thụ, hiện có 3 nhóm tín chỉ carbon: tín chỉ carbon trắng-là sản phẩm từ những giải pháp công nghệ tiên tiến do con người tạo ra nhằm hút trực tiếp carbon từ khí quyển và lưu trữ chúng trong các vật liệu bền vững hoặc nội thất xây dựng; Tín chỉ carbon xanh dương khai thác tiềm năng hấp thụ CO₂ từ đại dương, sông ngòi, hồ nước và các hệ sinh thái nước; Tín chỉ carbon xanh lá cây, dựa trên khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon của rừng và cây xanh. Bà Betty Palard cho rằng, Việt Nam nên ưu tiên phát triển 2 nhóm tín chỉ xanh lá cây và xanh dương dựa trên tiềm lực tài nguyên để khẳng định giá trị quốc gia trên bản đồ tín chỉ carbon toàn cầu.

Tuy nhiên, tiềm năng này hiện nay chưa được khai thác hiệu quả. Một trong những rào cản lớn khiến tín chỉ carbon của Việt Nam bị định giá thấp hơn nhiều quốc gia là do thiếu dữ liệu minh bạch và hệ thống đo lường chuẩn hóa. Bà Betty Palard dẫn chứng, cùng một loại cây, tín chỉ ở Pháp đạt 90 USD trong khi tại Việt Nam chỉ 5 USD.

Xây dựng thương hiệu tín chỉ carbon quốc gia

Nguyên nhân khiến tín chỉ carbon Việt Nam bị định giá thấp không nằm ở chất lượng tài nguyên, mà ở cách quản lý dữ liệu, bà Betty nhấn mạnh. Để cải thiện vị thế, Việt Nam cần xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch, theo dõi liên tục trong suốt vòng đời dự án, thường kéo dài 21 năm theo chu kỳ phát triển rừng. Bà cảnh báo: “Chỉ cần bỏ lỡ một năm theo dõi, chúng ta có thể phải bắt đầu lại từ đầu”. Đây là thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam tái định vị hình ảnh quốc gia trong chuỗi giá trị carbon toàn cầu cũng như có cơ hội vươn lên dẫn đầu.

Bà cũng nhấn mạnh vai trò của phục hồi đất, bảo tồn hạ tầng sinh thái như rừng, ruộng lúa, hệ thống thủy lợi. Bởi trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu cực đoan, và Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn, nếu không có hạ tầng bảo vệ, toàn bộ tín chỉ carbon sẽ “bốc hơi” sau một trận lũ hay cháy rừng – khiến các nhà đầu tư mất trắng.

Chính vì vậy, các dự án tín chỉ carbon của Việt Nam cần được lồng ghép với các khoản đầu tư từ tài chính khí hậu và tài chính chuyển đổi – những dòng vốn quốc tế hiện đang được mở rộng mạnh mẽ sau khi Thỏa thuận Paris về khí hậu được ký kết.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ 3 khu vực tiêu biểu trên thế giới. Trước hết, châu Âu là hình mẫu điển hình về việc xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch, chặt chẽ và có tính bắt buộc cao, yếu tố nền tảng giúp thị trường vận hành ổn định và đáng tin cậy. Tiếp theo, Hàn Quốc là quốc gia có cách tiếp cận cởi mở, khi cho phép sự tham gia rộng rãi của cộng đồng và các chủ thể phi truyền thống trong giao dịch tín chỉ carbon, từ đó thúc đẩy sự năng động và sáng tạo trong thị trường. Cuối cùng, Trung Quốc mang đến một góc nhìn thực tế khi lựa chọn cách tiếp cận phân tầng: các ngành phát thải lớn chịu sự điều tiết trực tiếp từ nhà nước, trong khi các lĩnh vực khác được khuyến khích để doanh nghiệp tự chủ động kết nối và giao dịch với nhau trên thị trường.

Bà Betty Palard cho rằng, sự kết hợp linh hoạt giữa những bài học này sẽ giúp Việt Nam thiết kế một mô hình thị trường carbon phù hợp với điều kiện trong nước, đồng thời tiếp cận các chuẩn mực quốc tế trong quá trình phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, để thực hiện hiệu quả cam kết Net Zero, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển thị trường carbon với mục tiêu kết nối thị trường trong nước với các cơ chế quốc tế, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Hiện nay, hệ thống khung pháp lý đang được từng bước hoàn thiện. Trong đó, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP đóng vai trò quan trọng trong việc quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định về sàn giao dịch carbon, nhằm thiết lập cơ chế vận hành minh bạch, hiệu quả cho thị trường này.

Song song với đó, các bộ, ngành liên quan cũng đang gấp rút hoàn thiện hệ thống hướng dẫn kỹ thuật, bao gồm các phương pháp đo đạc, báo cáo, xác minh (MRV), cùng khung quản lý tín chỉ carbon áp dụng cho cả 2 hình thức: thị trường bắt buộc (tuân thủ) và thị trường tự nguyện. Hiện nay, Việt Nam đã có khoảng 150 dự án được cấp hơn 40 triệu tín chỉ carbon, với khả năng giao dịch quốc tế, thuộc nhóm 4 quốc gia hàng đầu về số lượng dự án CDM (Cơ chế phát triển sạch).

Hơn thế, để tín chỉ carbon của Việt Nam có giá trị cao trên thị trường quốc tế, các chuyên gia cho rằng, cần có một chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia, dựa trên xác minh khoa học, truyền thông hiệu quả và tầm nhìn dài hạn. Bởi lẽ, giá trị của một tín chỉ carbon không chỉ là việc nó hấp thụ được bao nhiêu khí nhà kính, mà còn từ việc ai tin vào con số đó. Việt Nam đang đứng trước một thời cơ đặc biệt – không chỉ để tham gia vào thị trường carbon toàn cầu, mà còn có cơ hội dẫn dắt nếu biết nắm bắt đúng thời điểm và đầu tư đúng hướng.

Cần tạo ra thương hiệu cho tín chỉ carbon Việt Nam

Tín chỉ carbon: “Tiền tệ xanh” của tương lai

Tại sao một bức tranh Van Gogh sơn dầu lại có giá hàng triệu đô la trong khi các bức tranh khác không đáng giá? Bởi vì chính người xem nghệ thuật tạo ra giá trị. Vì vậy, chúng ta cần những nhà lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn cao để tạo ra thương hiệu cho tín chỉ carbon Việt Nam. Tôi thường nói đùa rằng, người Việt Nam có một thế mạnh rất lớn là đi đâu cũng được yêu quý và tôn trọng. Vì vậy, mỗi lần giới thiệu tín chỉ carbon của Việt Nam, hãy nhớ rằng với 100 triệu dân, nó thực sự có giá trị cả về lịch sử và trong nỗ lực không chỉ hấp thụ carbon mà còn phục hồi đất đai. Hạ tầng nông nghiệp của Việt Nam rất quan trọng. Ai cũng hiểu về an ninh lương thực, 42 quốc gia đang ăn gạo của Việt Nam. Nếu chúng ta cứ gặp khó khăn hàng năm do biến đổi khí hậu, 42 quốc gia đó cũng sẽ gặp vấn đề lớn. Đây là một câu chuyện rất sâu sắc về tư duy và chiến lược.

Ngọc Ánh

Tin liên quan

Tin khác

Giao đất không qua đấu giá, đấu thầu: HoREA kiến nghị làm rõ ‘luật chơi’

Giao đất không qua đấu giá, đấu thầu: HoREA kiến nghị làm rõ ‘luật chơi’

Quy định giao đất không qua đấu giá, đấu thầu cần được làm rõ để tránh cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, hạn chế vướng mắc thủ tục triển khai dự án.
Gỡ nút thắt cho doanh nghiệp FDI lên sàn

Gỡ nút thắt cho doanh nghiệp FDI lên sàn

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục mở rộng, nhưng số doanh nghiệp FDI hiện diện trên sàn chứng khoán gần như không tăng suốt nhiều năm qua. Khi cánh cửa IPO - niêm yết đã rộng hơn, việc xử lý các nghĩa vụ đầu tư hình thành từ trước đang trở thành nút thắt cần tiếp tục tháo gỡ.
Vòng quay mới cho dòng tiền xổ số

Vòng quay mới cho dòng tiền xổ số

Đề xuất rút kỳ hạn nợ tiền vé số từ 21 ngày xuống 7 ngày hướng tới tăng an toàn tài chính cho doanh nghiệp xổ số. Thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu tổ chức lại việc thu tiền, đối soát và bố trí vốn trong mạng lưới đại lý.
Chứng khoán tuần qua: VN-Index chật vật tìm lực đỡ

Chứng khoán tuần qua: VN-Index chật vật tìm lực đỡ

Mặc dù thanh khoản có sự cải thiện, thị trường chứng khoán Việt Nam tuần qua vẫn chưa thể tìm thấy ánh sáng phục hồi rõ nét. Tâm điểm đổ dồn vào đợt xả hàng kỷ lục gần 14.000 tỷ đồng của khối ngoại, tạo áp lực đè nặng lên các chỉ số.
Công nghiệp tăng tốc, đâu là dư địa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Công nghiệp tăng tốc, đâu là dư địa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Sản xuất công nghiệp đang tăng tốc qua từng quý, với công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chính. Tuy nhiên, khi mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 trên 10%, riêng quý IV phải tăng 12,5% và vẫn còn 15/34 địa phương chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì đà tăng mà còn phải tháo gỡ những điểm nghẽn tại các địa phương, thúc đẩy các dự án lớn và từng bước nâng năng lực sản xuất trong nước.
Gần 300 công trình nghiên cứu của sinh viên được công bố tại hội thảo quốc tế

Gần 300 công trình nghiên cứu của sinh viên được công bố tại hội thảo quốc tế

Hội thảo quốc tế sinh viên nghiên cứu khoa học lĩnh vực Kinh tế và Kinh doanh lần thứ 5 (SR-ICYREB 2026) thu hút hơn 350 bài nghiên cứu từ sinh viên các trường đại học, học viện trong nước và đối tác quốc tế. Trong đó, 293 công trình được lựa chọn công bố, tập trung vào các vấn đề kinh tế, kinh doanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Lợi nhuận doanh nghiệp nào có thể tăng vượt dự báo?

Lợi nhuận doanh nghiệp nào có thể tăng vượt dự báo?

Maybank Investment Bank (MSVN) dự báo tăng trưởng lợi nhuận toàn thị trường trong quý III/2026 có khả năng vượt mức 20,6% so với cùng kỳ, nhờ triển vọng tích cực của các ngành năng lượng, bán lẻ, thực phẩm và đồ uống.
Thị trường vốn 2026: Mở rộng nguồn lực, tăng chiều sâu huy động

Thị trường vốn 2026: Mở rộng nguồn lực, tăng chiều sâu huy động

Thị trường vốn Việt Nam đứng trước yêu cầu mở rộng quy mô, đa dạng hóa kênh huy động và nâng chất lượng dòng vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng.
Ưu đãi thuế để phát triển chuỗi cung ứng

Ưu đãi thuế để phát triển chuỗi cung ứng

Việt Nam hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp FDI. Dù chỉ chiếm khoảng 3% tổng số doanh nghiệp, khu vực này đóng góp hơn 30% số thu ngân sách từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng cao. Cơ hội từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi doanh nghiệp Việt nâng được năng lực và tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Tăng trưởng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng

Tăng trưởng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, cho rằng để hướng tới tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần nâng năng suất, phát huy hiệu quả đầu tư công và cải cách thể chế, thay vì dựa quá nhiều vào tín dụng, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.