Ưu tiên bảo vệ quyền lợi người gửi tiền

10:00 | 31/01/2019

Được thành lập năm 1999 và đi vào hoạt động năm 2000, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) đã từng bước trưởng thành về mọi mặt và ngày càng khẳng định được vai trò to lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng. 

Những thành công trên thể hiện qua việc triển khai có hiệu quả chính sách BHTG thông qua các nghiệp vụ như: giám sát, kiểm tra, tham gia kiểm soát đặc biệt, tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG…

Hoạt động truyền thông được BHTGVN tích cực đẩy mạnh tới công chúng

Tại Việt Nam, cơ sở pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động BHTG là Nghị định 89 về BHTG, tiếp đến là Nghị định 109 và hiện nay là Luật BHTG. Luật BHTG có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, theo đó, quyền lợi của người gửi tiền, sự an toàn lành mạnh của TCTD được đảm bảo tốt hơn khi pháp luật về BHTG được nâng lên ở mức cao nhất là luật.

Với việc ra đời của Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 và hệ thống các văn bản hướng dẫn cùng với Luật BHTG đã tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTG, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, sự ổn định, lành mạnh của hệ thống các TCTD. Đây là lần đầu tiên hoạt động BHTG tại Việt Nam có được  hành lang pháp lý quy định và hướng dẫn đầy đủ nhất. Điều này thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn của Đảng, Nhà nước ta đối với chính sách bảo vệ người gửi tiền.

Theo Luật BHTG, BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.

BHTG Việt Nam là tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tổ chức này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Hiện nay, BHTGVN đang bảo vệ cho hơn 4 triệu tỷ đồng tiền gửi bằng Việt Nam đồng của cá nhân tại gần 1.300 tổ chức tham gia BHTG trên toàn quốc, bao gồm: ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô. Người gửi tiền không phải nộp phí BHTG mà phí này do tổ chức nhận tiền gửi đóng cho BHTGVN theo quy định của pháp luật.

Khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ, phá sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền luôn được bảo đảm. BHTGVN thay mặt Chính phủ, NHNN thực hiện chi trả cho người gửi tiền trong hạn mức BHTG. Hạn mức BHTG được xác định trên cơ sở: năng lực tài chính của tổ chức BHTG, thực trạng tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, quy mô tiền gửi và thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Theo thông lệ quốc tế và khuyến nghị của Hiệp hội BHTG quốc tế, hạn mức trả tiền bảo hiểm nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm được cho phần lớn người gửi tiền, nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường (nghĩa là chịu rủi ro theo biến động thị trường). Với hạn mức BHTG theo quy định hiện hành là 75 triệu đồng, BHTGVN có khả năng bảo vệ phần lớn người gửi tiền, khá gần với khuyến nghị của Hiệp hội BHTG quốc tế. Phần vượt hạn mức BHTG, người gửi tiền sẽ được nhận trong quá trình xử lý tổ chức tham gia BHTG.

Từ khi được thành lập, BHTGVN đã chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền kịp thời, đúng quy định, góp phần nâng cao niềm tin công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng. Người gửi tiền còn được BHTGVN bảo vệ gián tiếp gắn với “vòng đời” của tổ chức tham gia BHTG từ khi được thành lập cho đến khi rút khỏi thị trường thông qua các nghiệp vụ BHTG khác nhằm góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng như: Cấp và thu hồi chứng nhận tham gia BHTG, giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ, tham gia kiểm soát đặc biệt...

Bên cạnh triển khai các hoạt động nghiệp vụ, BHTGVN cũng tích cực tuyên truyền chính sách BHTG đến người gửi tiền và đây được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu của BHTGVN. Khi người dân hiểu rõ chính sách BHTG, niềm tin của họ vào hệ thống ngân hàng sẽ cao hơn. Rủi ro đột biến rút tiền gửi sẽ ít có khả năng xảy ra, hệ thống ngân hàng vì thế sẽ hoạt động an toàn hơn.

Chính phủ và NHNN đang quyết liệt tái cơ cấu các TCTD và xử lý nợ xấu giai đoạn 2. Một trong những nguyên tắc quan trọng được quán triệt trong quá trình này là ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD có hiệu lực từ ngày 15/1/2018 đã trao cho BHTGVN trách nhiệm lớn hơn nhằm tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu các TCTD, cụ thể: BHTGVN được mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ trong quá trình cơ cấu lại TCTD được kiểm soát đặc biệt. BHTGVN cũng trực tiếp hỗ trợ tài chính và hỗ trợ thanh khoản cho TCTD trong diện kiểm soát đặc biệt thông qua khoản vay đặc biệt theo phương án phục hồi đã được phê duyệt, theo chỉ định của NHNN.

Bên cạnh đó, BHTGVN phối hợp cùng Ban Kiểm soát đặc biệt và các cơ quan có liên quan để đánh giá tính khả thi đối với phương án phục hồi QTDND, tổ chức TCVM và công ty tài chính. Đối với TCTD không thể khôi phục hoạt động bình thường mà buộc phải cho phá sản, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Chính phủ quyết định chủ trương phá sản, BHTGVN phối hợp cùng Ban kiểm soát đặc biệt, các cơ quan có liên quan và TCTD đó xây dựng phương án phá sản trình NHNN.

Mặt khác, để nâng cao hiệu quả giám sát tổ chức tham gia BHTG, BHTGVN đã ban hành Quy chế thông tin báo cáo về tiền gửi được bảo hiểm (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018). Đây văn bản đầu tiên tại Việt Nam quy định về cách thức thu thập thông tin về tiền gửi được bảo hiểm từ tổ chức tham gia BHTG để xây dựng hệ thống dữ liệu đáp ứng yêu cầu hoạt động nghiệp vụ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của BHTGVN quy định tại Luật BHTG.

Có thể nói, BHTGVN đã và đang góp phần quan trọng vào công cuộc tái cấu trúc hệ thống các TCTD, ngày càng khẳng định vị thế là công cụ đắc lực của Chính phủ, NHNN trong sứ mệnh bảo vệ người gửi tiền. Để sử dụng nguồn lực của BHTGVN tốt hơn trong các nhiệm vụ được giao và khẳng định được vai trò của BHTGVN trong quá trình tái cơ cấu các TCTD, BHTGVN cần nỗ lực hơn nữa, nâng cao chất lượng trong các hoạt động nghiệp vụ, xây dựng chiến lược, định hướng phát triển trong tương lai nhằm thực hiện tốt mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng Việt Nam.

Diệu Mỹ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080