WB: Hơn 55% lao động Việt Nam đang làm việc trong khu vực phi chính thức

17:13 | 18/06/2021

Báo cáo toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 17/6 cho thấy, đại dịch Covid-19 thể hiện rõ nhất sự bấp bênh của người lao động trong khu vực phi chính thức. Và giai đoạn phục hồi hậu Covid-19 sẽ là cơ hội để đẩy nhanh việc chuyển đổi các hoạt động kinh tế từ phi chính thức sang chính thức.

Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng kí kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh). Khu vực này sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế của một quốc gia do nguồn thu thuế mang lại từ khu vực này hết sức hạn chế.

wb hon 55 lao dong viet nam dang lam viec trong khu vuc phi chinh thuc
Biểu đồ sản lượng phi chính thức ở một số khu vực kinh tế. Nguồn: WB

Theo Báo cáo của WB, quy mô của khu vực phi chính thức tại Việt Nam có xu hướng giảm từ 20,5% GDP trong giai đoạn 1990-1999 xuống còn 12,6% trong giai đoạn 2010-2018. Tuy nhiên số  người làm việc trong khu vực này vẫn còn rất cao, chiếm hơn 55% tổng lực lượng lao động, phản ánh năng suất lao động thấp.

WB nhấn mạnh, khu vực phi chính thức sẽ kéo theo sự chậm phát triển. Do nguồn thu thuế mang lại từ đây hết sức hạn chế, Chính phủ thiếu đi nguồn lực để hỗ trợ các hoạt động kinh tế và cung cấp các dịch vụ xã hội  thiết yếu. Về khía cạnh an sinh xã hội, người lao động trong khu vực này không được hưởng chế độ phúc lợi hay hỗ trợ khẩn cấp.

Đại dịch Covid-19 đã thể hiện rõ nhất sự bấp bênh của người lao động trong khu vực phi chính thức. Chủ yếu làm việc trong các ngành dịch vụ, những người này dễ bị mất việc hoặc bị giảm sút thu nhập nghiêm trọng. Và giai đoạn phục hồi hậu Covid-19 sẽ là cơ hội để đẩy nhanh việc chuyển đổi các hoạt động kinh tế từ phi chính thức sang chính thức.

Báo cáo của WB cũng cho thấy, tỷ lệ việc làm phi chính thức ở các nền kinh tế có thu nhập trên mức trung bình thấp hơn khoảng 2/5 so với các nền kinh tế có thu nhập dưới mức trung bình. Hơn nữa, sản lượng phi chính thức cũng thấp hơn khoảng 1/10.

Ở các nền kinh tế có thu nhập dưới mức trung bình, tỷ trọng việc làm phi chính thức vượt xa tỷ trọng sản lượng được tạo ra ở khu vực này. Điều này phản ánh năng suất lao động thấp trong khu vực phi chính thức. Có thể thấy sự khác biệt rõ rệt ở Indonesia, Lào, Mông Cổ, và Việt Nam.

Đại dịch Covid-19 đã đặt ra những thách thức trong việc bảo vệ người lao động phi chính thức và các hộ gia đình dễ bị "tổn thương" ở châu Á. Nhưng đây cũng sẽ là cơ hội để giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội trong dài hạn, tăng cường bảo trợ xã hội cho người lao động phi chính thức. Chẳng hạn như việc giúp họ tiếp cận các dịch vụ y tế và cơ bản, tài chính và nền kinh tế kỹ thuật số.

Việc tăng năng suất lao động cũng là yếu tố cần phải xem xét, bao gồm cải thiện khả năng tiếp cận với các dịch vụ phát triển kinh doanh, giảm tham nhũng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần tạo điều kiện cho người lao động được tiếp cận các dịch vụ tài chính và các chương trình giáo dục, đào tạo tiên tiến.

Cũng theo WB, việc đầu tư và mở rộng vào các hệ thống bảo trợ xã hội là cần thiết. Các hệ thống bảo trợ sẽ hiệu quả hơn nếu có thể liên kết với các hệ thống hỗ trợ giáo dục, y tế và việc làm hiện. Trên cơ sở đó, nguồn tài chính cho các chương trình bảo hiểm xã hội có thể được cải thiện.

Quan trọng hơn cả, đại dịch thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách thực hiện biện pháp tăng cường hệ thống bảo trợ xã hội, bao gồm khả năng thích ứng với các biến cố trong tương lai.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.880 23.110 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.910 23.110 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.880 23.100 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.910 23.100 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.910 23.090 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.910 23.090 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.902 23.117 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.885 23.100 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.910 23.090 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.940 23.100 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.900
51.600
Vàng nữ trang 9999
50.600
51.300