11:34 | 20/09/2019

Cắt giảm lãi suất ảnh hưởng tích cực tới chứng khoán

Lãi suất điều hành gần như có xu hướng đối nghịch với đà tăng của thị trường chứng khoán. Đây là thông tin đáng chú ý trong báo cáo phân tích mới đây của BSC.

Diễn biến của VN-Index với lãi suất điều hành

VN-Index thường đạt điểm cao nhất sau 6 tháng cắt giảm lãi suất

CTCP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) vừa có báo cáo phân tích về tác động của quyết định cắt giảm lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới ban hành lên thị trường chứng khoán.

Trong nhận định của mình, BSC cho rằng tác động của việc thay đổi chính sách tiền tệ ở các quốc gia trên thế giới thường có độ trễ trung bình từ 9-18 tháng. Tuy nhiên, tác động của việc cắt giảm lãi suất thường được phản ánh ngay trong phiên giao dịch mà thông tin cắt giảm lãi suất được công bố, và dần dần thể hiện vào kết quả của các doanh nghiệp và khả năng chấp nhận định giá của nhà đầu tư.

Tăng/giảm của VN-Index với việc giảm lãi suất điều hành của NHNN giai đoạn 2008-2019

Theo dữ liệu trên, có thể thấy việc NHNN cắt giảm lãi suất thường sẽ khiến VN-Index tăng 0.26% điểm ngay trong phiên và kéo dài lên mức 3.4% vào tháng sau. Mặc dù có sự giảm nhẹ sau 3 tháng nhưng thống kê cho thấy VN-Index thường đạt mức tăng điểm cao nhất trong 6 tháng sau khi việc cắt giảm lãi suất đã có tác động dần vào nền kinh tế.

Như vậy, việc thị trường chứng khoán tăng điểm chủ yếu là do mức độ gia tăng kỳ vọng của nhà đầu tư vào việc cắt giảm lãi suất, khiến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi.

BSC cũng nhận định, lợi nhuận gia tăng của doanh nghiệp chủ yếu đến từ 2 nguyên nhân là chi phí đi vay giảm nhẹ sẽ cải thiện hoạt động dòng tiền của doanh nghiệp và tạo thêm nguồn kinh phí để thực hiện thêm các dự án đầu tư, hoạt động tài chính và các thương vụ M&A. Ngoài ra, người tiêu dùng sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn khi các mức lãi suất cho vay suy giảm và từ đó, làm gia tăng trở lại doanh số bán hàng của doanh nghiệp.

Đáng chú ý trong báo cáo của BSC là nhận định “lãi suất điều hành gần như có xu hướng đối nghịch với đà tăng của thị trường chứng khoán”.

Cụ thể, giai đoạn 2011-2012 được coi là khoảng thời gian khá khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt mức 5.89% vào năm 2011 và giảm xuống mức 5.03% vào năm 2012. Tình trạng lạm phát ở mức cao với chỉ số CPI đã tăng lên mức đỉnh 23% vào tháng 8 cùng với mức lãi suất điều hành nằm ở mức 14-15% trong năm 2011.

Với tình hình kinh tế suy giảm mạnh như vậy, đã tác động mạnh lên thị trường chứng khoán, có tới 450/495 doanh nghiệp đang niêm yết trên tập trung báo lỗ; khoảng 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng hơn một nửa số làng nghề trên cả nước bị tê liệt vì lãi suất cao và khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Hiện tượng này đã khiến chỉ số VN-Index giảm 45% về mức 351.55 điểm vào cuối năm 2011 bởi nỗi lo lắng của nhà đầu tư về triển vọng doanh nghiệp và tình hình kinh tế vĩ mô.

Trong khi đó, ở giai đoạn 2012-2013, có thể thấy Ngân hàng Nhà nước đã có 4 lần liên tiếp cắt giảm lãi suất, các chỉ tiêu vĩ mô theo đó ổn định trở lai, VN-Index cũng tăng trưởng tới 17% năm 2012, và 22% năm 2013.

Dự báo xu hướng chính sách tiền tệ và chứng khoán

Trong ngắn hạn, BSC cho rằng NHNN nhiều khả năng sẽ chỉ giữ lãi suất cơ bản ở mức này hoặc hạ thêm 0.25% vào cuối năm hoặc đầu năm sau nếu Fed và ECB tiếp tục cắt giảm lãi suất và nới lỏng chính sách tiền tệ.

Việc cắt giảm trên mức 0.5% là khó xảy ra khi các chỉ báo vĩ mô vẫn đang ở mức tích cực và các lần cắt giảm từ năm 2014 đến nay chỉ dừng ở mức 0.25%-0.5% trong một thời gian dài.

Ngoài các chỉ tiêu vĩ mô chung thì cung tiền M2 và hoạt động của thị trường liên ngân hàng cũng sẽ là điều cần phải chú ý trong nửa cuối năm 2019, khi dữ liệu này cũng là một trong những tín hiệu quan trọng cho chính sách của NHNN.

Dài hạn hơn, chính sách của NHNN nhiều khả năng cũng sẽ theo xu hướng chung của thế giới do nền kinh tế Việt Nam đang ở mức hội nhập cao với mũi nhọn tăng trưởng dựa vào xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên, với việc các số liệu vĩ mô của Việt Nam vẫn ở mức khá tốt, NHNN sẽ có thêm nhiều dư địa chính sách, cũng như sẽ linh hoạt và quan sát diễn biến của ngân hàng trung ương các nước, để chuẩn bị cho giai đoạn kinh tế thế giới và trong nước khó khăn hơn.

Do vậy, “việc cắt giảm lãi suất điều hành của NHNN, nếu có, nhiều khả năng sẽ ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng trung ương khác”, BSC nhận định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670