14:15 | 04/06/2019

Chứng khoán 4/6: Thị trường tăng trở lại

Tuy thị trường tăng điểm song nhiều công ty chứng khoán vẫn khuyên nhà đầu tư nên thận trọng.

Thị trường chứng khoán ngày 3/6 diễn ra với biến động mạnh, lực bán liên tiếp trên diện rộng, trong khi lực cầu khá yếu khiến các chỉ số chìm trong sắc đỏ. 

Trái ngược với phiên ngày 3/6, ngày 4/6 thị trường đã lấy lại màu xanh khi mà nhiều nhận định của các công ty chứng khoán cho rằng xu hướng giảm đã rõ nét và hình thành. VN-Index kết thúc phiên sáng với mức tăng 0,39% lên 950,14 điểm và có 163 mã tăng/94 mã giảm; HNX-Index tăng 0,06% lên 103,34 điểm với 50 mã tăng/53 mã giảm; UPCoM-Index tăng 0,24% lên 54,93 điểm; HNX30-Index đang tăng 0,39% với 13 mã tăng/5 mã giảm; VN30-Index tăng 0,29% với 23 mã tăng/6 mã giảm. Đáng chú ý là nhóm cổ phiếu ngân hàng tăng khá mạnh VCB tăng 1,2% và BID tăng 1,31%; CTG tăng 1,01%... Cả phiên sáng hai sàn chỉ khớp lệnh 1.097,1 tỷ đồng, giảm 37% so với sáng hôm qua và là mức giao dịch kém nhất 17 phiên. Điều đáng nói là lực bán đã giảm đáng kể khiến cho thị trường trụ được mốc 950 điểm.  

Thị trường tăng nhưng chưa ổn định

Tuy thị trường tăng điểm song nhiều công ty chứng khoán vẫn khuyên nhà đầu tư nên thận trọng, CTCK Bảo Việt – BVSC dự báo VN-Index sẽ tiếp tục giảm về vùng hỗ trợ 930-940 điểm trong phiên kế tiếp. Với việc nhiều nhóm cổ phiếu có dấu hiệu rơi vào trạng thái quá bán, thị trường được kỳ vọng sẽ cho phản ứng hồi phục tăng điểm trở lại tại vùng hỗ trợ trên. Trong bối cảnh thị trường đang có xu hướng biến động mạnh theo hướng tiêu cực trong ngắn hạn, nhà đầu tư được khuyến nghị tiếp tục đứng ngoài thị trường và duy trì tỷ trọng thấp 20% cổ phiếu.

CTCK Phú Hưng cho rằng thị trường đang nằm trong xu hướng điều chỉnh ngắn hạn. Do đó, nhà đầu tư nên tiếp tục duy trì tỷ trọng danh mục ở mức an toàn nhằm tránh những rủi ro bất ngờ tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, với việc chỉ số đang giảm tiệm cận cùng hỗ trợ quanh vùng đáy tháng 5/2019 nên khả năng có thể có một sổ phiên phục hồi kỹ thuật, trước khi quay lại xu hướng giảm chính mà nhà đầu tư có thể tận dụng để giảm tỷ trọng danh mục của mình. CTCK Sài Gòn – Hà Nội – SHS cũng cho rằng VN-Index có thể sẽ giằng co mạnh quanh vùng đáy cũ của thị trường trong tháng 5 trong khoảng 940-950 điểm. Nhà đầu tư hạn chế bắt đáy trong giai đoạn này và có thể căn những nhịp hồi phục để hạ tỷ trọng cổ phiếu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.459 26.334 29.600 30.105 201,54 214,68
BIDV 23.140 23.260 25.533 26.288 29.688 30.260 207,91 214,76
VietinBank 23.124 23.254 25.447 26.282 29.551 30.191 210,79 216,79
Agribank 23.140 23.250 25.475 26.867 29.639 30.124 211,12 214,97
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 29.724 30.135 211,93 214,86
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 29.786 30.121 212,14 215,06
Sacombank 23.100 23.260 25.485 25.942 29.472 30.144 211,38 215,94
Techcombank 23.130 23.270 25.238 26.235 29.375 30.297 210,80 217,96
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.422 25.896 29.758 30.201 211,57 215,47
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.840 29.730 30.130 208,60 214,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.320
41.560
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.320
41.540
Vàng SJC 5c
41.320
41.560
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.720
Vàng nữ trang 9999
40.740
41.540