09:08 | 19/02/2015

Cuộc chiến margin 2015

Các CTCK trong top giữa và top dưới một mặt phải cạnh tranh gay gắt với nhau để có nguồn thu từ margin, nhưng mặt khác cũng phải nghĩ ra những “chiêu” để giữ khách hàng ở lại với mình, tránh việc bị các CTCK lớn hơn lấy mất và đây cũng có thể trở thành điểm nóng trong cuộc chiến margin năm 2015.

Với một số CTCK, margin (giao dịch ký quỹ) nhiều khi còn được xem là “vũ khí tối thượng” để giành giật thị phần của nhau. Vậy trong năm 2015, cuộc chiến margin sẽ diễn ra như thế nào?

Khi Thông tư 36 của NHNN chính thức được áp dụng, các NH sẽ không được cho vay quá 5% vốn điều lệ để đầu tư cổ phiếu (CP) và NH nào có nợ xấu trên 3% cũng không được triển khai nghiệp vụ này. Như vậy, nếu NH nào không đạt chuẩn để cho vay margin thì nguồn vốn từ đó sẽ “hụt”, đồng nghĩa với việc CTCK gặp vấn đề với “đầu vào” (bởi thường CTCK sẽ vay tiền từ NH và cho khách hàng vay margin). Lúc này, sẽ có 2 khả năng: Các CTCK tìm “nhà cung cấp” (NH) mới hoặc tự tạo ra đầu vào cho mình.

Những NH có vốn lớn, nhưng lại chưa hết room cho vay margin sẽ có lợi thế để đẩy vốn ra thị trường thông qua “người nhà” (CTCK trực thuộc) hoặc “người ngoài” (CTCK khác). Ở đây có thể nhắc đến những CTCK trực thuộc các NH lớn như BSC (thuộc BIDV) và VCBS (thuộc Vietcombank). Cả BSC hay VCBS đều đã từng là những tên tuổi lớn trên thị trường, nhưng đã có một thời gian chững lại để tái cấu trúc và trong vài năm gần đây bắt đầu tăng tốc trở lại. Như trong năm 2014 vừa qua, BSC đã xuất hiện tại một loạt các đợt cổ phần hóa, IPO lớn của Vinatex và Vietnam Airlines. Nguồn vốn mà BIDV dành cho BSC hay VCB dành cho VCBS chắc là không thiếu. Và nếu trong năm 2015 này, các CTCK vừa nêu đẩy mạnh thị phần thì dòng vốn margin từ các kênh này sẽ khiến nhiều đối thủ khác phải dè chừng.

Lợi thế trong việc huy động vốn còn thuộc về những CTCK giữ thị phần lớn và có tên tuổi như SSI, HSC… Các đơn vị này sẽ có rất nhiều lựa chọn trong việc huy động vốn, từ vay NH cho đến phát hành CP, trái phiếu… Việc các CTCK lớn vay NH hàng nghìn tỷ đồng không phải là quá khó.

Điển hình như trường hợp của HSC, hồi tháng 10/2014 CTCK này đã công bố kế hoạch vay 1.400 tỷ đồng từ các NH để làm vốn lưu định. Hay trong những ngày cuối năm 2014, SSI cũng đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu với giá trị tối đa 1.500 tỷ đồng. Với lợi thế của mình, tất nhiên các CTCK sẽ được NH ưu tiên cho vay với điều kiện tốt nhất. Trường hợp không sử dụng vốn vay, họ có thể chuyển hướng sang phát hành CP, trái phiếu. Nhiều lựa chọn, nên vấn đề của các CTCK này là sử dụng phương án nào tối ưu.

Với các CTCK top dưới, thách thức có thể sẽ đến nhiều hơn ngay cả với những CTCK có NH mẹ (nhưng không phải nhóm hàng đầu) đứng sau. Trong trường hợp NH mẹ cung ứng vốn vượt trần quy định của Thông tư 36 thì đương nhiên sẽ phải siết lại, buộc các CTCK “con” phải đa dạng hóa đầu vào, thay vì chỉ trông chờ vào mẹ. Khả năng, nguồn vốn margin từ các CTCK nhóm này sẽ không còn “bốc” như trước mà phải cẩn trọng hơn là điều có thể dự báo.

Trong số những CTCK từ top giữa xuống dưới, chỉ một số cho thấy năng lực thực sự và có thể tính đến chuyện phát hành CP, còn lại sẽ gặp nhiều thách thức. Trong khi đó, việc vay vốn NH để phục vụ cho margin với nhóm này không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Đầu vào đã vậy, còn đầu ra, hay có thể nói là cách thức “bán hàng”, đưa margin ra thị trường sẽ như thế nào? Có tiền thì đồng thời phải có “hàng”. CTCK cung ứng margin tất nhiên cũng phải kiếm “hàng”, tức là CP, để NĐT giao dịch. Đó cũng là lý do mà lâu nay, một số CTCK thường có những CP “ruột”, NĐT muốn tìm hiểu thông tin về một số CP nhất định và thậm chí được một mức margin cao hơn chỗ khác. Đó cũng là lý do khiến cho một số CTCK nhỏ tồn tại được trong cuộc chiến margin.

Theo đó, với một số CP mà các CTCK lớn cho là rủi ro, hạn chế margin, hoặc margin với tỷ lệ thấp thì CTCK có thể có cách hỗ trợ cho khách hàng sử dụng margin với tỷ lệ cao hơn. Nếu xem khả năng tư vấn, “phím hàng” của các CTCK giống như hậu mãi, chăm sóc khách hàng thì lãi suất margin cũng tương tự như “giá bán” và trong yếu tố này cũng chứa đựng nhiều sự thú vị.

Có thể nói, nhìn vào mức lãi suất margin mà các CTCK đưa ra sẽ thấy được một cách tương đối rõ ràng vị thế cũng như chiến lược của CTCK. Với những CTCK top đầu, lãi suất margin thường được neo ở mức cao, với khoảng 15%/năm và tốc độ giảm thường khá chậm. Thường với những CTCK top đầu thì thương hiệu, tiện ích, quyền lợi đem lại cho khách hàng cũng ở mức cao, nên mức lãi suất margin cao cũng là một cách khẳng định đẳng cấp của CTCK. Các CTCK này cũng không quá quan tâm đến những CTCK chọn lãi suất margin thấp hơn.

Tuy nhiên, margin với lãi suất thấp cũng đem lại không ít lợi ích cho khách hàng, đặc biệt là những khách hàng lướt sóng với tần suất lớn. Đó là còn chưa kể đến những CP được phán đoán là có hiện tượng “nuôi thanh khoản”. Để duy trì thanh khoản ở mức cao tất nhiên cần những nguồn vốn lớn, nhưng nếu vốn chưa lớn sẽ phải có trợ lực, mà ở đây chính là margin.

Như vậy, các CTCK trong top giữa và top dưới một mặt phải cạnh tranh gay gắt với nhau để có nguồn thu từ margin, nhưng mặt khác cũng phải nghĩ ra những “chiêu” để giữ khách hàng ở lại với mình, tránh việc bị các CTCK lớn hơn lấy mất và đây cũng có thể trở thành điểm nóng trong cuộc chiến margin năm 2015.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700