11:21 | 25/05/2012

Đầu tư tư nhân vẫn bị chèn ép

Vốn đầu tư công tăng 1%, đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0,48%. Nhưng, 1% tăng thêm của đầu tư tư nhân đóng góp khoảng 0,33% tăng trưởng, trong khi đó cũng 1% tăng thêm, đầu tư nhà nước chỉ đóng góp được 0,23% cho tăng trưởng.

Việt Nam đang phải đối diện với thử thách to lớn trong việc tái cơ cấu nền kinh tế với chi phí kinh tế - xã hội không nhỏ. Điều đó đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn và tư duy thực sự đổi mới. Đó là điểm nhấn trong bản báo cáo kinh tế thường niên với tựa đề “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế” của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR).

Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế vừa được khởi động nhưng lại va phải những diễn biến đầy khó khăn. Hai từ “thiểu phát” đã được nghĩ tới để lường trước nguy cơ và tìm ra chính sách tốt. VEPR tán đồng mạnh mẽ với quá trình tái cấu trúc và sự lựa chọn 3 trụ cột là cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, DNNN và tái cơ cấu đầu tư công. VEPR đã có những đóng góp chính sách quan trọng, trong đó có một lưu ý về hiệu quả thấp của đầu tư công và sự lấn át đầu tư tư nhân. Lưu ý này được đưa ra để gợi ý câu trả lời cho vấn đề: tái cơ cấu đầu tư công theo hướng nào – nên giảm hay tăng đầu tư công khi nhiều năm nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang tăng trưởng dựa vào đầu tư.

Đã không ít những nhận định phân tích và phê phán về “hiệu quả đầu tư công thấp” và hệ lụy là lạm phát cao, là vĩ mô bất ổn… VEPR bổ sung thêm một hệ lụy đối với khu vực tư nhân khi đầu tư công tăng cao nhưng hiệu quả thấp. Đầu tư công tăng cao kéo theo nhu cầu về vốn của Chính phủ khiến lãi suất gia tăng; nhu cầu hàng hóa, dịch vụ cũng tăng khiến giá cả trở nên đắt đỏ hơn và tác động tiêu cực tới khu vực tư nhân.

“Kết quả thực nghiệm cho thấy hiện tượng đầu tư công “lấn át” đầu tư của tư nhân thể hiện rõ nét. Sau một thập niên cho thấy 1% vốn đầu tư công tăng ban đầu sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp khoảng 0,48%”, TS.Nguyễn Đức Thành – Giám đốc VEPR cho biết.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tác động đến tăng trưởng của đầu tư nhà nước thấp hơn so với đầu tư tư nhân. 1% tăng thêm của đầu tư tư nhân đóng góp khoảng 0,33% tăng trưởng. Nhưng cũng 1% tăng thêm, đầu tư nhà nước chỉ đóng góp được 0,23% cho tăng trưởng. Hơn nữa, đầu tư công dành tới 40% cho phát triển cơ sở hạ tầng – đây là tỷ lệ lớn, theo VEPR, bên cạnh đó, ngược lại đầu tư cho nông nghiệp, công nghệ và giáo dục lại có xu hướng giảm.


Việc giảm sút tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư KTNN là do các KV kinh tế khác có tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư cao hơn

Bản báo cáo của VEPR đã phát hiện ra những bất cập trong cơ chế phân bổ và giám sát nguồn vốn của Việt Nam từ việc cấp ngân sách ở trung ương đến khâu nhận và thực hiện dự án đầu tư ở địa phương. “Cơ chế phân cấp phân quyền đầu tư hiện tại đang khuyến khích các địa phương “vẽ” các dự án để xin được càng nhiều ngân sách từ trung ương càng tốt”, theo TS.Nguyễn Đức Thành.

Trong khi đó cơ chế giám sát nguồn vốn phân bổ từ chính quyền trung ương lại hầu như không có. Hiện nay, Quốc hội chỉ giám sát các dự án trọng điểm quốc gia, các dự án cấp địa phương do Hội đồng nhân dân giám sát, nhưng thiếu các bộ phận giám sát chuyên trách còn giám sát cộng đồng rất yếu.

Những bất cập đó đã dẫn đến việc tất yếu cần giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong quá trình tái cơ cấu đầu tư mà Chính phủ đang khởi động. Đầu tư công giảm đi và chất lượng tăng lên sẽ tạo cơ hội bình đẳng hơn cho các nguồn vốn đầu tư tư nhân, tạo ra các cơ chế hiệu quả để huy động tối đa các nguồn vốn xã hội, giảm dần sự phụ thuộc và trông chờ ngân sách, góp phần giảm áp lực lên nợ công và bội chi ngân sách.

Lương Linh

Nguồn :

Ngân hàng
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
1,00
1,00
-
4,00
4,50
4,90
5,30
5,40
6,00
6,20
BIDV
-
-
-
4,50
4,50
5
5,30
5,40
6,80
6,30
VietinBank
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
-
-
Eximbank
1,00
1,00
1,00
4,50
4,60
4,80
5,50
5,60
6,10
6,70
ACB
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,50
5,10
5,30
5,70
6,30
Sacombank
-
-
-
4,30
4,40
4,60
5,10
5,50
5,70
6,30
Techcombank
0,50
0,50
0,50
4,40
4,55
4,55
5,05
5,30
5,95
6,36
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1
4,00
4,50
5,00
5,30
5,40
6,80
DongA Bank
0,50
0,55
0,60
4,30
4,50
4,90
5,30
5,60
6,60
6,70
Agribank
-
-
-
4,00
4,50
4,80
5,30
5,40
6,00

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 21.495 21.555 23.362 23.690 31.584 32.092 177,37 180,77
BIDV 21.495 21.555 23.419 23.695 31.666 32.151 178,15 181,00
VietinBank 21.490 21.560 23.377 23.678 31.584 32.119 177,92 180,88
Agribank 21.460 21.540 23.303 23.704 31.603 32.144 177,93 181,00
Eximbank 21.480 21.560 23.395 23.683 31.742 32.133 178,73 180,93
ACB 21.480 21.570 23.426 23.690 31.859 32.138 178,83 180,85
Sacombank 21.480 21.560 23.353 23.709 31.626 32.123 178,55 181,04
Techcombank 21.485 21.560 23.076 23.877 31.410 32.165 177,72 181,50
LienVietPostBank 21.480 21.570 23.194 23.681 31.842 32.159 176,78 180,80
DongA Bank 21.480 21.570 23.430 23.670 31.790 32.120 178,80 180,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
35.230
35.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
35.230
35.330
Vàng SJC 5c
35.230
35.350
Vàng nhẫn 9999
31.830
32.130
Vàng nữ trang 9999
31.230
32.130