13:00 | 20/02/2019

Tăng cường thu hút dòng vốn gián tiếp nước ngoài

Năm 2019, các yếu tố tác động từ tình hình quốc tế vẫn mang tính bất định lớn, nhưng các yếu tố thuận lợi, mang tính cốt lõi trong nước vẫn chiếm ưu thế và ủng hộ thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển.

UPCoM-Index tăng 4,6% trong tháng 1/2019
Vốn FDI tháng 1/2019: Tăng có mừng?
Ảnh minh họa

Sẽ tháo gỡ vướng mắc về tỷ lệ sở hữu

Bà Tạ Thanh Bình - Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho biết, 2018 là năm TTCK Việt Nam trải qua nhiều biến động do những phức tạp của tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ thế giới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đó TTCK vẫn đạt được, duy trì nhiều kết quả ấn tượng. Dòng vốn nước ngoài vào ròng trên TTCK vẫn duy trì ở mức cao (2,75 tỷ USD năm 2018 so với 2,92 tỷ USD năm 2017), thể hiện cầu đầu tư mạnh mẽ của các NĐTNN vào Việt Nam. Giá trị danh mục đầu tư của NĐTNN năm 2018 đạt 32,6 tỷ USD, tương đương với giá trị cuối năm 2017 và khoảng hơn 1 tỷ USD tiền mặt.

Tại lễ đánh cồng phiên giao dịch chứng khoán đầu năm 2019 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã giao Bộ Tài chính, UBCKNN phối hợp với các bộ, ngành triển khai các giải pháp nâng hạng thị trường từ cận biên lên mới nổi. Cùng với nền tảng vĩ mô trong nước, các chuyên gia chứng khoán cho rằng đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thu hút dòng vốn ngoại tiếp tục đầu tư vào TTCK Việt Nam.

Dưới góc nhìn của mình, bà Tạ Thanh Bình cho rằng, việc Việt Nam được bổ sung vào danh sách theo dõi nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi loại 2 là một trong những động thái hết sức tích cực góp phần thu hút lượng vốn ngoại vào TTCK Việt Nam. Xét về các tiêu chí của FTSE, TTCK Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí đối với thị trường mới nổi thứ cấp, bao gồm: môi trường pháp lý, hạ tầng và chất lượng thị trường, hoạt động giao dịch, hệ thống lưu ký và thanh toán bù trừ... Tuy nhiên, để được chính thức nâng hạng, thị trường Việt Nam sẽ cần tiếp tục duy trì và cải thiện tốt hơn các tiêu chí được đề ra và thời gian tối thiểu xem xét là 1 năm.

Còn xét trên các tiêu chí của MSCI (công ty uy tín chuyên cung cấp các công cụ phân tích thị trường tài chính và xây dựng các chỉ số tham chiếu cho các NĐT trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu) thì Việt Nam đã đáp ứng được tất cả các yêu cầu về định lượng và vấn đề cần cải thiện là định tính: minh bạch, tự do hóa luồng vốn, quản trị công ty, mở cửa cho NĐTNN.

Hiện nay, UBCKNN đang tiến hành tháo gỡ vướng mắc về tỷ lệ sở hữu để tăng cường thu hút dòng vốn gián tiếp nước ngoài thông qua việc xây dựng Luật Chứng khoán (sửa đổi); phát triển, đa dạng hóa và gia tăng chất lượng các sản phẩm trên TTCK; tăng cường tính công khai, minh bạch hóa trên TTCK, đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin của nhà đầu tư ngoại; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và báo cáo tài chính…

“Với các giải pháp nâng hạng đang được thực hiện, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng năm 2019 hoặc năm 2020, TTCK Việt Nam sẽ đáp ứng được các tiêu chí của MSCI”, bà Bình phân tích.

Những điểm nhấn thu hút dòng vốn ngoại

Dường như những nhìn nhận của đại diện UBCKNN là có cơ sở bởi nhìn về nền tảng năm 2018, trong khi nhiều TTCK giảm điểm mạnh, thì TTCK Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định tích cực. Trong đó đáng lưu ý nhất là tình trạng dòng tiền ngoại bị rút ra ồ ạt tại hầu hết các thị trường mới nổi, nhưng TTCK Việt Nam nhìn chung vẫn ổn định. Chỉ số VN-Index lập đỉnh đạt 1.204,33 điểm vào ngày 9/4/2018. Tính đến cuối năm, chỉ số VN-Index giảm 9,3% so với cuối năm 2017. Song đây là mức giảm vừa phải so với bình diện chung trên toàn cầu.

Điểm tích cực là quy mô vốn của thị trường tăng mạnh, theo đó quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt gần 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm 2017 đạt 77,6% GDP năm 2017 và tương đương với 70,2% GDP năm 2018, vượt chỉ tiêu 70% GDP đề ra tại Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân đạt 6.500 tỷ đồng/phiên, tăng 29% so với năm 2017, giao dịch trái phiếu về cơ bản vẫn giữ được mức sôi động với giá trị giao dịch đạt 8.834 tỷ đồng/phiên.

Các chuyên gia chứng khoán cũng cho rằng, năm 2018 trong bối cảnh dòng vốn nước ngoài bị rút ra ồ ạt ở nhiều thị trường mới nổi thì năm qua dòng vốn gián tiếp vào thị trường Việt Nam vẫn dương là một điểm sáng. Cùng với đó, việc tổ chức FTSE đưa TTCK Việt Nam vào danh sách theo dõi nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi hạng 2 là dấu hiệu rõ ràng cho thấy TTCK Việt Nam đã được giới đầu tư tài chính quan tâm và tin tưởng đầu tư nhiều hơn.

“Nhận thức được vai trò của vốn ngoại, và sự bất cân xứng tạm thời giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp, trong khi đầu tư trực tiếp tăng rất mạnh, thương mại tăng nhanh thì đầu tư gián tiếp đang có phần khiêm tốn, thì Bộ Tài chính đã rất chủ động trong việc xúc tiến đầu tư.

Đặc biệt, từ năm 2014 đến nay gần như năm nào bộ trưởng cũng trực tiếp xúc tiến đầu tư ở những địa bàn trọng điểm. Kết quả là bên cạnh nỗ lực xúc tiến đầu tư của UBCKNN, các thành viên thị trường, các CTCK thì nỗ lực trực tiếp của người đứng đầu ngành tài chính đã mang đến hiệu quả nhìn thấy rõ”, ông Nguyễn Văn Dũng – Chủ tịch UBCKNN nhấn mạnh.

Nhiều chuyên gia chứng khoán cũng cho rằng, nhìn một cách tổng thể các yếu tố thuận lợi mang tính cốt lõi vẫn chiến ưu thế và ủng hộ TTCK Việt Nam phát triển trong năm 2019, tuy nhiên những yếu tố bên ngoài vẫn mang tính bất định rất lớn như việc Fed có thể tăng lãi suất hay ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung… do đó nhà đầu tư cần theo dõi thật sát sao, đồng thời vững vàng về tâm lý để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực không đáng có.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.480
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.480
41.750
Vàng SJC 5c
41.480
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750