16:19 | 20/04/2019

Tăng trưởng chậm là cơ hội để thúc đẩy cải cách

Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa phát hành Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam, trong đó nhận định, diễn biến tăng trưởng kinh tế thấp hơn của quý 1/2019 (so với cùng kỳ năm ngoái) là điều không gây bất ngờ.  

Sức ỳ của nông nghiệp đã là chuyện “cơm bữa”

Ngành nông nghiệp tăng trưởng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ (là +3,76%) nhưng nếu so với quý 1 các năm trước đó thì +1,84% vẫn là một con số tương đối cao. Quý 1/2016 GDP, nông nghiệp giảm -2,69% còn quý 1/2017 tăng +1,38%. Tỷ trọng lúa gạo trong ngành nông nghiệp của Việt Nam khá lớn nên những thay đổi về thời tiết hay thị trường xuất khẩu gạo đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành.

Năm 2016 thời tiết khô hạn do El Nino đã khiến nông nghiệp tăng trưởng âm. Năm 2017 và 2019 thời tiết thuận lợi hơn nhưng xuất khẩu gạo lại giảm sút. Chỉ riêng năm 2018, ngành nông nghiệp có được thuận lợi cả về thời tiết lẫn thị trường (do Philippines và Indonesia tăng nhập khẩu gạo) nên ngành nông nghiệp đạt tăng trưởng cao kỷ lục +3,74%. 

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam (chiếm 22% tổng xuất khẩu) và Việt Nam cũng là nước cung cấp gạo lớn nhất cho Trung Quốc (chiếm 46,2% tổng nhập khẩu). Tuy vậy kể từ đầu năm 2018 Trung Quốc đã áp dụng nhiều rào cản làm ảnh hưởng đến việc nhập khẩu gạo từ Việt Nam như tăng thuế nhập khẩu gạo nếp từ 5% lên 50% hay kiểm soát chặt nhập khẩu gạo tấm. Có thể nói các rào cản chính sách từ phía Trung Quốc mới chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Việt Nam chứ không phải do kinh tế Trung Quốc giảm tốc hay đồng Nhân dân tệ mất giá. 

Một tín hiệu tích cực là giá lúa gạo đã có tín hiệu tạo đáy trong tháng 2 và nhích tăng nhẹ trong tháng 3. Giá lúa trung bình trong tháng 3 là 5.45 nghìn/kg trong khi của tháng 2 là 5.27 nghìn/kg. Trái ngược với Trung Quốc, Philippines lại đang nới lỏng việc nhập khẩu gạo với việc dỡ bỏ quy định hạn mức nhập khẩu đã áp dụng trong 2 thập kỷ, đồng thời mức thuế nhập khẩu gạo từ các nước ASEAN vào Philippines cũng thấp hơn so với các nước khác, 35% so với 50%.

Thủy sản còn nhiều hy vọng

Hai năm 2017 và 2018 có thể coi là giai đoạn “vàng son” của ngành thủy sản khi đạt được tăng trưởng cao cả về sản lượng lẫn giá cả nhờ mở rộng được thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, tình hình không còn thuận lợi khi tăng trưởng xuất khẩu thủy sản quý 1/2019 chuyển sang âm -1,4% (quý 1 2017 và 2018 tăng +7,4% và +18,2%). Hàng loạt thị trường quan trọng giảm nhập khẩu như Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Hà Lan trong khi Mỹ tăng trưởng chậm lại. 

Ví dụ cả năm 2018, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc giảm -7,9%, trái ngược hoàn toàn với tăng trưởng tổng nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc là +43,6%. Như vậy, rất có thể Trung Quốc cũng đã áp dụng rào cản chính sách với thủy sản Việt Nam, tương tự như gạo.

Với thị trường EU, Khối này đưa ra “thẻ vàng” với thủy sản của Việt Nam từ tháng 10/2017 và liên tiếp 2 lần gia hạn “thẻ vàng” trong năm 2018. Đây có thể coi là một áp lực tích cực để ngành thủy sản Việt Nam phải thay đổi theo các chuẩn mực khai thác quốc tế. Luật Thủy sản được thông qua năm 2017 và có hiệu lực vào 1/1/2019 hứa hẹn sẽ mang đến những thay đổi lớn trong khai thác thủy sản, nhờ vậy mà không chỉ “thẻ vàng” có thể được gỡ bỏ mà hình ảnh và chất lượng thủy sản của Việt Nam sẽ lên một nấc mới, hỗ trợ tích cực cho xuất khẩu thủy sản trong tương lai. 

Mỹ là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam nhưng tốc độ xuất khẩu quý 1 chỉ đạt +3,9%. Một nguyên nhân được nhắc đến là do Mỹ đã tăng nhập khẩu vào cuối năm 2018 nên hàng tồn kho còn nhiều, dẫn đến giảm bớt nhập khẩu vào đầu năm 2019. Hiện tại thuế nhập khẩu vào Mỹ đang có chiều hướng thuận lợi cho cả tôm và cá tra nên nhiều khả năng tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này sẽ khởi sắc hơn trong những quý tới.

Chế biến chế tạo vẫn là đầu tàu kéo tăng trưởng

Mức tăng trưởng 12,35% của Công nghiệp chế biến chế tạo là rất ấn tượng trong bối cảnh ngành có giá trị lớn là điện thoại đã yếu đi rõ rệt. Để bù đắp cho sự sụt giảm của Điện thoại, nhiều ngành công nghiệp đã có tăng trưởng cao như Tinh chế dầu mỏ (dự án lọc dầu Nghi Sơn), sắt thép (dự án của Formosa), sản xuất tivi (dự án của LG), sản xuất ô tô (chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có tác động tích cực đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô của cả FDI lẫn trong nước)…

Bên cạnh đó, sản xuất hóa chất cũng có tăng trưởng ấn tượng trong quý 1/2019, đạt +10,4%, cao nhất trong nhiều năm và gấp hơn 3 lần cùng kỳ 2018. Tương tự là sản phẩm cao su và plastic, tăng +12,8%. Sản xuất thực phẩm và đồ uống cũng có tăng trưởng cao, lần lượt đạt +8,7% và +11,4%, đều là mức cao so với các quý 1 trước.

Dịch vụ tăng trưởng chậm lại

GDP Dịch vụ quý 1/2019 tăng 6,5%, là quý 1 thấp nhất trong 3 năm gần đây. Mặc dù 2 ngành có giá trị lớn là bán buôn bán lẻ và kinh doanh bất động sản có tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ nhưng các lĩnh vực khác như lưu trú ăn uống, giáo dục đào tạo… lại giảm sút đã kéo giảm tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ nói chung.

Lưu trú và ăn uống có mối liên hệ mật thiết với du lịch, trong đó lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đóng vai trò quyết định. “Như các báo cáo trước chúng tôi đã đề cập, khách Trung Quốc giảm là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng ngành du lịch giảm tốc. Ba tháng đầu năm lượng khách Trung Quốc đã giảm -5,6% YoY, kéo tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam xuống chỉ còn +7% (cùng kỳ tăng +30,9%). Giá trị xuất khẩu du lịch trong quý 1 cũng vì vậy tăng thấp, +7,3% (cùng kỳ tăng +23,3%). 

Nếu so với ngành công nghiệp vốn đòi hỏi công nghệ cao, đầu tư lớn và thị trường xuất khẩu khó kiểm soát, du lịch là một ngành tương đối dễ phát triển thành mũi nhọn tăng trưởng kinh tế. Một điểm nghẽn đang hạn chế sự phát triển của du lịch là cơ chế quản lý và vì vậy, Chính phủ cần nhanh chóng có giải pháp thu hút khách quốc tế như cải cách thủ tục cấp thị thực, tăng cường mở thêm các tuyến bay quốc tế, nâng cao năng lực quản lý cấp địa phương hay thúc đẩy xây dựng các trung tâm du lịch mới…

Nhìn sang các quý tiếp theo, báo cáo nhận định các lĩnh vực nông nghiệp, du lịch nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng thấp vì rất khó để sớm tìm được thị trường thay thế cho Trung Quốc. Trong khi đó, điện thoại sẽ tiếp tục kéo lùi tăng trưởng nếu không có những đột phá về sản phẩm hay dự án mới. Lọc hóa dầu Nghi Sơn cũng sẽ không còn tạo ra tăng trưởng cao đột biến từ nửa cuối 2019. Khai khoáng tăng trưởng thấp hoặc âm. Hy vọng cho tăng trưởng nằm ở các ngành kim loại, ô tô, Dệt may, giày dép, nội thất.

“Như vậy thì tăng trưởng thấp sẽ không chỉ dừng lại ở quý 1 mà có thể còn kéo dài đến hết năm. Tăng trưởng chậm là cơ hội để thúc đẩy cải cách thể chế. Năm 2019 vẫn cần được coi là một năm tích lũy, rà soát, củng cố nội lực, tạo bàn đạp để tăng tốc trong các năm tiếp theo”, Báo cáo khuyến nghị.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.340 25.954 26.814 27.989 28.437 212,68 221,06
BIDV 23.220 23.340 25.920 26.666 27.952 28.431 216,57 222,10
VietinBank 23.203 23.333 25.895 26.690 27.890 28.530 216,31 223,31
Agribank 23.215 23.320 25.926 26.322 27.971 28.438 216,98 220,95
Eximbank 23.210 23.320 25.936 26.295 28.055 28.443 217,30 222,30
ACB 23.190 23.310 25.901 26.258 28.136 28.452 217,28 220,27
Sacombank 23.183 23.343 25.947 26.406 28.089 28.498 216,47 221,03
Techcombank 23.195 23.335 25.700 26.561 27.733 28.593 216,30 223,68
LienVietPostBank 23.205 23.325 25.886 26.368 28.087 28.521 217,36 221,90
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.250
42.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.250
41.600
Vàng SJC 5c
41.250
41.620
Vàng nhẫn 9999
41.250
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.800
41.600