14:59 | 24/03/2015

Trái phiếu tuần 23-27/3: Liệu lãi suất có tiếp xu hướng nhích lên?

Tuần này, lãi suất TPCP dự báo sẽ đi ngang/tăng nhẹ. Các yếu tố tác động tổng thể chưa có nhiều thay đổi; tuy nhiên, sau khi Kho bạc Nhà nước để lãi suất các kỳ hạn 10 và 15 năm nhích nhẹ ở tuần trước, có thể lãi suất sẽ biến động sát với động thái đưa ra của Kho bạc Nhà nước...

Theo số liệu từ Sở GDCK Hà Nội (HNX), tuần qua, thị trường trái phiếu chính phủ sơ cấp tổ chức 3 phiên đấu thầu, bao gồm: một phiên của Ngân hàng Chính sách Xã hội và hai phiên của Kho bạc Nhà nước.

Cụ thể, ngày 16/3, Ngân hàng Chính sách Xã hội huy động thành công 396 tỷ đồng/496 tỷ đồng gọi thầu tại các kỳ hạn 3 năm, 5 năm và 15 năm. Trong đó, trái phiếu kỳ hạn 3  năm trúng thầu 100 tỷ đồng/100 tỷ đồng gọi thầu, tại lãi suất 4,89%/năm, giảm 11 điểm với lãi suất trúng thầu phiên trước đó (ngày 9/3/2015).

Kỳ hạn 5 năm trúng thầu 200 tỷ đồng/300 tỷ đồng gọi thầu, tại lãi suất 5,63%/năm, bằng với lãi suất trúng thầu phiên gần nhất (ngày 9/3/2015). Còn kỳ hạn 15 năm trúng thầu 96 tỷ đồng/96 tỷ đồng, tại lãi suất 7,65%/năm, giảm 5 điểm cơ bản so với lãi suất trúng thầu phiên đấu thầu gần nhất (ngày 9/3/2015).

Tiếp đó, ngày 18/3, Kho bạc Nhà nước huy động thành công  2.280 tỷ đồng/5.000 tỷ đồng gọi thầu tại các kỳ hạn 10 năm và 15 năm. Trong đó,  trái phiếu kỳ hạn 10 năm trúng thầu 200 tỷ đồng/2.500 tỷ đồng gọi thầu, tại lãi suất 6,39%/năm, tăng 4 điểm cơ bản so với lãi suất trúng thầu phiên gần nhất (ngày 12/3/2015). Kỳ hạn 15 năm gọi thầu thành công 2.080 tỷ đồng/2.500 tỷ đồng, tại lãi suất 7,3%/năm, tăng 5 điểm so với lãi suất trúng thầu phiên đấu thầu gần nhất (ngày 12/3/2015).

Ngày 20/3, Kho bạc Nhà nước huy động được 120 tỷ đồng/4.000 tỷ đồng gọi thầu tại kỳ hạn 5 năm, với lãi suất 5,1%/năm, giảm 22 điểm cơ bản so với lãi suất trúng thầu phiên gần nhất (ngày 12/3/2015).

Như vậy, tính từ đầu năm, tổng khối lượng trúng thầu đạt 68.972,82 tỷ đồng, bao gồm: Kho bạc Nhà nước đấu thầu thành công 55.023,52 tỷ đồng (hoàn thành 22,01% kế hoạch đấu thầu năm); Ngân hàng Phát triển đấu thầu thành công 9.000 tỷ đồng; Ngân hàng Chính sách Xã hội đấu thầu thành công 4.949,3 tỷ đồng.

Trên thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp, giá trị giao dịch trong tuần qua đạt gần 27.815 tỷ đồng, tương đương giá trị giao dịch bình quân đạt 5.563 tỷ đồng/phiên, giảm 10% so với bình quân phiên tuần kế trước.

Trong đó, giao dịch outright đạt hơn 19.960 tỷ đồng, tập trung vào các trái phiếu kỳ hạn dưới 3 năm (kỳ hạn 0 - 1 năm chiếm 24,27%;  kỳ hạn 1 – 3 năm chiếm 38,77%;  kỳ hạn 3-5 năm chiếm 31,90%; kỳ hạn 5-10 năm chiếm 1,87%; kỳ hạn 10-15 năm chiếm 3,20%).

Giao dịch repo đạt 7.854 tỷ đồng với kỳ hạn repos từ 12 đến 105 ngày.

Trong tuần, không có giao dịch tín phiếu kho bạc nào được thực hiện.

Nếu tính riêng từ 1/1/2015 đến nay, giá trị giao dịch của trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc đạt 207.873 tỷ đồng và 1.363 tỷ đồng, tương đương với giá trị giao dịch bình quân phiên đạt gần 4.242,31 tỷ đồng cho trái phiếu và 27,81 tỷ đồng cho tín phiếu.

Bộ phận Nghiên cứu, Ban Kinh doanh vốn và tiền tệ, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nhận xét, tuần qua, thị trường trái phiếu chính phủ diễn biến trầm lắng hơn. Thanh khoản có phần sụt giảm, cung tăng lên và cầu ở mức trung bình.

Tiếp nối đà bán ròng tuần kế trước, nhà đầu tư nước ngoài tuần qua tiếp tục có tuần bán ròng, với giá trị bán ròng khoảng 393 tỷ đồng. Như vậy, tính từ 1/1/2015 đến nay, tổng giá trị giao dịch mua - bán trái phiếu chính phủ của nhà đầu tư nước ngoài là 36.850 tỷ đồng, chiếm 8,86% so với giá trị giao dịch toàn thị trường.

Lãi suất trái phiếu chính phủ tuần qua tiếp tục tăng thêm 5-10 điểm trên các kỳ hạn. Cuối tuần, lãi suất các kỳ hạn 2, 3, 5 và 10 năm lần lượt quanh mức 4,75%, 4,86%, 5,42% và 6,45%/năm.

Bộ phận Nghiên cứu cho rằng, bước tăng của lãi suất có phần mạnh hơn so với kỳ vọng. Các yếu tố tác động chưa có nhiều thay đổi. Thị trường duy trì tâm lý thận trọng vốn đã được hình thành từ đầu tháng 3 sau khi kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước yếu dần, cộng với diễn biến khá căng thẳng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã khiến lực bán ra tăng lên và nhu cầu mua vào chững lại. Ngoài ra, kết quả phiên đấu thầu ngày 18/3 cũng đã tác động đến tâm lý thị trường sau khi Kho bạc Nhà nước để lãi suất các kỳ hạn 10 và 15 năm nhích nhẹ.

Trên thị trường sơ cấp, sự kém sôi động được thể hiện rõ trên con số trúng thầu qua các phiên huy động. Nếu tính từ đầu năm tới nay, có thể nói tuần qua là tuần có khối lượng huy động đạt tỷ lệ thấp nhất, đặc biệt là phiên ngày 20/3, tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt khoảng 3%. Lãi suất sơ cấp giảm 22 điểm ở kỳ hạn 5 năm, tăng nhẹ khoảng 4 và 5 điểm cơ bản lần lượt cho hai kỳ hạn 10 và 15 năm.

Tuần này, nguồn cung sơ cấp khá thấp, nếu so sánh thì có thể thấy đây là phiên gọi thầu có khối lượng “hẻo” nhất tính từ đầu năm, với chỉ 3.500 tỷ đồng, cho 2 kỳ hạn 10 và 15 năm. Tuy vậy, dù khối lượng khá khan hiếm, nhưng việc nhà đầu tư hấp thụ được bao nhiêu % vẫn còn phải chờ câu trả lời từ thực tế bởi tâm lý thận trọng vẫn còn.

Lãi suất trái phiếu chính phủ dự báo sẽ đi ngang/tăng nhẹ trong tuần này. Các yếu tố tác động tổng thể chưa có nhiều thay đổi và chưa thực sự hỗ trợ thị trường trái phiếu vào thời điểm hiện nay.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450