banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 5/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.643 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.411/26.875 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Tỷ giá hạch toán USD tháng 7/2018 là 22.594 đồng/USD

M.T
M.T  - 
Kho bạc Nhà nước vừa thông báo về tỷ giá hạch toán kế toán và báo cáo thu chi ngoại tệ tháng 7/2018, áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Theo đó, tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam với đôla Mỹ (USD) tháng 7 là 1 USD = 22.594 đồng.
aa

Tỷ giá hạch toán giữa VND với các đồng ngoại tệ như sau: Với Euro (đồng tiền chung châu Âu) là 26.272 đồng/EUR; với Bảng Anh là 29.729 đồng/GDP; với Yên Nhật là 204 đồng/JPY; với Nhân dân tệ Trung Quốc là 3.403 đồng/CNY; với Đôla Hồng Kông là 2.878 đồng/HKD; với Franc Thụy Sỹ = 22.594 đồng/CHF; với Đô la Singapore là 16.492 đồng/SGD...

Tỷ giá hạch toán trên được áp dụng trong các nghiệp vụ: Quy đổi và hạch toán thu, chi NSNN bằng ngoại tệ kể cả các khoản thu hiện vật có gốc bằng ngoại tệ; Quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước.

TÊN NƯỚC

TÊN

Ký hiệu ngoại tệ

VND/Ngoại tệ

NGOẠI TỆ

Bằng số

Bằng chữ

-

SLOVAKIA

SLOVAKKORUNA

09

SKK

1.048

MOZAMBIQUE

MOZAMBICAN METICAL

10

MZN

385

NICARAGUA

CORDOBA ORO

11

NIO

713

NAM T

NEW DINAR

12

YUM

-

CHÂU ÂU

EURO

14

EUR

26.272

GUINÉ - BISSAU

GUINEA BISSAU PESO

15

GWP

-

HONDURAS

LEMPIRA

16

HNL

944

ALBANIA

LEK

17

ALL

209

BA LAN

ZLOTY

18

PLN

5.993

BULGARIA

LEV

19

BGN

13.369

LIBERIA

LIBERIAN DOLLAR

20

LRD

152

HUNGARY

FORINT

21

HUF

80

SNG (NGA)

RUSSIAN RUBLE( NEW)

22

RUB

359

MÔNG CỔ

TUGRIK

23

MNT

9

RUMANI

LEU

24

RON

5.620

TIỆP KHẮC

CZECH KORUNA

25

CZK

1.008

TRUNG QUỐC

YAN RENMINBI

26

CNY

3.403

CHDCND TRIỀU TIÊN

NORTH KOREAN WON

27

KPW

174

CUBA

CUBAN PESO

28

CUP

22.594

LÀO

KIP

29

LAK

3

CAMPUCHIA

RIEL

30

KHR

6

PAKISTAN

PAKISTAN RUPEE

31

PKR

186

ARGENTINA

ARGENTINE PESO

32

ARS

808

ANH VÀ BẮC IRELAND

POUND STERLING

35

GBP

29.729

HÔNG KÔNG

HONG KONG DOLLAR

36

HKD

2.878

PHÁP

FRENCH FRANC

38

FRF

3.041

THỤY SĨ

SWISS FRANC

39

CHF

22.594

CHLB ĐỨC

DEUTSCH MARK

40

DEM

10.177

NHẬT BẢN

YEN

41

JPY

204

BỒ ĐÀO NHA

PORTUGUESE ESCUDO

42

PTE

100

GUINÉE

GUINEA FRANC

43

GNF

3

SOMALIA

SOMA SHILING

44

SOS

39

THÁI LAN

BAHT

45

THB

681

BRUNEI DARUSSALAM

BRUNEI DOLLAR

46

BND

16.736

BRASIL

BRAZILIAN REAL

47

BRL

5.853

THỤY ĐIỂN

SWEDISH KRONA

48

SEK

2.502

NA UY

NORWEGIAN KRONE

49

NOK

2.759

ĐAN MẠCH

DANISH KRONE

50

DKK

3.508

LUCXEMBOURG

LUXEMBOURG FRANC

51

LUF

495

ÚC

AUSTRALIAN DOLLAR

52

AUD

16.613

CANADA

CANADIAN DOLLAR

53

CAD

16.988

SINGAPORE

SINGAPORE DOLLAR

54

SGD

16.492

MALAYSIA

MALAYSIAN RINGGIT

55

MYR

5.579

ALGÉRIE

ALGERIAN DINAR

56

DZD

192

YEMEN

YEMENI RIAL

57

YER

90

IRAQ

IRAQI DINAR

58

IQD

19

LIBYA

LEBANESE DINAR

59

LYD

16.492

TUNISIA

TUNISIAN DINAR

60

TND

8.624

BỈ

BELGIAN FRANC

61

BEF

495

MAROC

MOROCCAN DIRHAM

62

MAD

2.368

COLOMBIA

COLOMBIAN PESO

63

COP

8

CÔNG GÔ

CFA FRANC BEAC

64

XAF

39

ANGOLA

KWANZA REAJUSTADO

65

AOR

91

HÀ LAN

NETHERLANDS GUILDER

66

NLG

9.038

MALI

CFA FRANC BEAC

67

XOF

39

MYANMA

KYAT

68

MMK

16

AI CẬP

EGYPTIAN POUND

69

EGP

1.266

SYRIA

SYRIAN POUND

70

SYP

44

LI BĂNG

LIBIAN POUND

71

LBP

15

ETHIOPIA

ETHIOPIAN BIRR

72

ETB

829

IRELAND

IRISH POUND

73

IEP

25.387

THỔ NHĨ KỲ

NEW TURKISH LIRA

74

TRY

4.922

ITALY

ITALIAN LIRA

75

ITL

10

PHẦN LAN

MARKKA

76

FIM

3.357

MEXICO

MAXICAN PESO

77

MXN

1.145

PHILIPPINES

PHILIPINE PESO

78

PHP

422

PARAGUAY

GUARANI

79

PYG

4

HY LẠP

DRACHMA

80

GRD

59

ẤN ĐỘ

INDIAN RUPEE

81

INR

328

SRI LANKA

SRILANCA RUPEE

82

LKR

143

BANGLADESH

TAKA

83

BDT

270

INDONESIA

RUPIAH

84

IDR

2

ÁO

SCHILLING

85

ATS

1.450

QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ

SDR

86

SDR

-

ECUADOR

SUCRE

87

ECS

1

NEW ZEALAND

NEWZELAND DOLLAR

88

NZD

15.266

DJIBOUTI

DJIBOUTI FRANC

89

DJF

127

TÂY BAN NHA

SPANISH PESETA

90

ESP

120

PERU

NUEVO SOL

92

PEN

6.909

PANAMA

BALBOA

93

PAB

22.594

ĐÀI LOAN

NEW TAIWAN DOLLAR

94

TWD

739

MA CAO

PATACA

95

MOP

2.803

IRAN

IRANIAN RIAL

96

IRR

1

CÔ OÉT

KUWAITI DINAR

97

KWD

75.313

HÀN QUỐC

WON

98

KRW

20

M.T

Tin liên quan

Tin khác

Kết nối dữ liệu giúp phá rào cản cho vay đổi mới sáng tạo

Kết nối dữ liệu giúp phá rào cản cho vay đổi mới sáng tạo

Nguồn lực tài chính trong nền kinh tế không thiếu, song con đường đưa dòng vốn tiếp cận đúng lúc, đúng chỗ với các chủ thể đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ vẫn tồn tại nhiều rào cản, cần nhiều giải pháp chuyên ngành và liên ngành.
Khơi thông dòng vốn theo chuỗi cung ứng

Khơi thông dòng vốn theo chuỗi cung ứng

Vốn tín dụng đang tăng mạnh tại những địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI và công nghiệp hỗ trợ. Khi quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng, dòng vốn từ các ngân hàng cũng có thêm dư địa bám sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thông tư 50 tạo bước chuyển mới trong quản lý rủi ro ngân hàng

Thông tư 50 tạo bước chuyển mới trong quản lý rủi ro ngân hàng

Thông tư 50/2026/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30/9/2026 có nhiều điều chỉnh quan trọng về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, hướng tới tiệm cận chuẩn mực Basel và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng. Trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Trưởng Bộ môn Kinh doanh ngân hàng, Học viện Ngân hàng đã phân tích một số đổi mới của Thông tư, đồng thời làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng trong quá trình triển khai quy định mới.
Ngân hàng mở rộng vốn quốc tế tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngân hàng mở rộng vốn quốc tế tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thực tế cho thấy, huy động vốn quốc tế đang trở thành một kênh bổ sung nguồn lực đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam. Dòng vốn này được mở rộng khá mạnh trong năm 2025 và đặc biệt rõ nét trong năm 2026, với nhiều khoản vay gắn với các mục tiêu phát triển bền vững, tín dụng xanh, xã hội và hỗ trợ DNNVV.
Tài chính tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh: Tăng trưởng gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng

Tài chính tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh: Tăng trưởng gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng

Đến cuối tháng 8/2026, tổng dư nợ của các công ty tài chính trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đạt 182,3 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cuối năm. Cùng với quy mô tín dụng, kiểm soát chất lượng tín dụng, ứng dụng công nghệ đang là những yếu tố quan trọng đối với hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển tài chính tiêu dùng.
Thông tư 50 hướng ngân hàng tới nền tảng vốn ổn định hơn

Thông tư 50 hướng ngân hàng tới nền tảng vốn ổn định hơn

Thông tư 50/2026/TT-NHNN đưa ra nhiều thay đổi quan trọng đối với các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, trong đó đáng chú ý là việc điều chỉnh LDR và đưa LCR, NSFR vào lộ trình áp dụng. Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh cho rằng khuôn khổ mới sẽ tạo thêm dư địa cân đối nguồn vốn, đồng thời thúc đẩy các ngân hàng chuyển sang cấu trúc nguồn vốn ổn định, bền vững hơn.
NHNN quy định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tối đa 95%

NHNN quy định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tối đa 95%

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đáng chú ý, Thông tư đưa vào lộ trình áp dụng các chỉ tiêu thanh khoản LCR, NSFR, đồng thời quy định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa 95%.
Agribank được vinh danh 3 giải thưởng Ngân hàng Việt Nam tiêu biểu 2026

Agribank được vinh danh 3 giải thưởng Ngân hàng Việt Nam tiêu biểu 2026

Tối 30/9/2026, trong khuôn khổ Diễn đàn Ngân hàng Bán lẻ Việt Nam 2026 (Vietnam Retail Banking Forum 2026) diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) được vinh danh tại 03 hạng mục của Giải thưởng Ngân hàng Việt Nam tiêu biểu 2026 (Vietnam Outstanding Banking Awards).
AI, Deepfake gia tăng rủi ro: Công ty tài chính phải ‘kiểm soát chính xác hơn’

AI, Deepfake gia tăng rủi ro: Công ty tài chính phải ‘kiểm soát chính xác hơn’

Ngày 1/10, Câu lạc bộ Tài chính Tiêu dùng thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Hội thảo “Quản trị rủi ro và phòng, chống gian lận hoạt động tài chính tiêu dùng trong bối cảnh mới”, tập trung nhận diện những rủi ro mới và giải pháp bảo đảm thị trường phát triển an toàn, minh bạch, bền vững.
Vì sao lãi suất cho vay khó giảm?

Vì sao lãi suất cho vay khó giảm?

Nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh đang tạo sức ép lên khả năng cân đối nguồn vốn của các ngân hàng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn khả năng huy động, chi phí đầu vào khó giảm, trong khi áp lực lạm phát, tỷ giá, nợ xấu và dự phòng vẫn hiện hữu. Bởi vậy, dư địa giảm lãi suất cho vay trên diện rộng được đánh giá không còn nhiều.