07:00 | 14/10/2019

VN-Index sẽ đóng cửa trên 1.000 điểm vào cuối năm

Tăng 4,9% trong quý 3 và 11,7% kể từ đầu năm, VN-Index có diễn biến tốt hơn đáng kể so với chỉ số chứng khoán thị trường mới nổi và là chỉ số chứng khoán duy nhất trong khu vực ghi nhận mức tăng dương trong quý 3. Với triển vọng thị trường được nhìn nhận tích cực hơn trong quý 4, nhiều công ty chứng khoán nhận định VN-Index có thể đóng cửa cuối năm trên ngưỡng 1.000 điểm.

Những yếu tố bất định từ bên ngoài

Theo các công ty chứng khoán, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam những tháng cuối năm chịu tác động của khá nhiều yếu tố từ cả bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Yếu tố phải nói tới, theo Công ty chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), chính là căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tiếp tục diễn biến khó lường và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Cuộc chiến thương mại này có thể tác động đến TTCK Việt Nam trên mấy khía cạnh sau. Thứ nhất, căng thẳng thương mại kéo dài có thể mang tới cơ hội nhưng có tính chọn lọc cho các DN xuất khẩu trong ngắn hạn. Thứ hai, căng thẳng thương mại gia tăng áp lực lên tỷ giá thông qua hai đồng tiền: CNY và USD. Với CNY, đồng tiền này đã phá vỡ ngưỡng “tâm lý” 7,0, để ngỏ khả năng tiếp tục xu hướng mất giá trong thời gian tới. Trong khi những rủi ro địa chính trị khiến USD được xem là nơi “trú ẩn” này tiếp diễn đà tăng trong quý 3, bất chấp việc Fed đã hạ lãi suất. Với tác động kép từ biến động của 2 đồng tiền này, tỷ giá thực tế đa phương (REER) của VND đã bật tăng lên mức cao nhất trong vòng 4 năm qua. Mặc dù vậy theo KBSV, tác động của tỷ giá lên biến động TTCK trong giai đoạn hiện nay là không lớn...

Thị trường tháng cuối năm sẽ chịu chi phối bởi các yếu tố trong nước

Yếu tố bất định thứ hai là sự giảm tốc của kinh tế toàn cầu. Hiện kinh tế toàn cầu xuất hiện nhiều dấu hiệu suy giảm rất đáng lo ngại. Theo đó, chỉ số PMI sản xuất toàn cầu đã nằm ở dưới mốc 50 trong 5 tháng liên tiếp, chuỗi suy giảm dài nhất kể từ năm 2012. Điều đó cho thấy tác động gián tiếp của căng thẳng thương mại Mỹ - Trung ngày càng bộc lộ rõ nét hơn. Sự bất định kéo dài khiến cho các chuỗi cung ứng hàng hóa bị gián đoạn, các DN sản xuất trì hoãn mở rộng đầu tư. Bởi vậy, WTO gần đây đã mạnh tay cắt giảm dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu xuống 1,2% trong năm nay từ mức dự báo 2,6% trước đó. Tâm lý lo sợ suy thoái kinh tế sẽ có thể gia tăng và điều đó sẽ tác động mạnh tới diễn biến TTCK toàn cầu, từ đó ảnh hưởng tới TTCK Việt Nam.

Yếu tố thứ ba là xu hướng nới lỏng tiền tệ sẽ tiếp diễn. Với môi trường lạm phát toàn cầu ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế chậm lại, trong khi rủi ro địa chính trị gia tăng, tính từ đầu năm 2019 đến nay đã có 46 NHTW thực hiện cắt giảm lãi suất. Theo KBSV, xu hướng trên sẽ còn tiếp diễn trong các quý tới, giúp hỗ trợ đáng kể cho kinh tế toàn cầu, kéo dài chu kỳ tăng trưởng và giảm rủi ro suy thoái kinh tế trong thời gian tới. Đặc biệt, thanh khoản toàn cầu dồi dào giúp các TTCK mới nổi như Việt Nam thuận lợi hơn trong việc thu hút dòng vốn nước ngoài. Trong đó, với triển vọng tăng trưởng kinh tế cao trong khi lại được hưởng lợi từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho dòng vốn “giá rẻ” của cả các quỹ chủ động và bị động.

Yếu tố trong nước là động lực chính

Cũng có chung quan điểm về những yếu tố bất định bên ngoài, song theo Công ty chứng Bảo Việt (BVSC), các yếu tố trong nước mới là động lực chính dẫn dắt thị trường trong quý 4. Trong đó đáng chú ý nhất là kết quả kinh doanh các doanh nghiệp niêm yết duy trì tăng trưởng, nhưng P/E hiện đã ở mức khá cao.

Theo BVSC, tính đến hết quý 3/2019, chỉ số của P/E và P/B của Việt Nam ở mức 16,6 và 2,4. So với mẫu so sánh gồm 12 quốc gia bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Indonesia.... có thể thấy, chỉ số P/E và P/B của Việt Nam đang tiếp tục duy trì mức trung bình so với các nước trong khu vực. Trong quá khứ, mặc dù P/E và P/B của Việt Nam nằm ở mức trung bình, sự hấp dẫn về mặt định giá của Việt Nam đến từ tốc độ tăng trưởng EPS ở mức cao. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại P/E của Việt Nam đã giảm sức hấp dẫn khi tốc độ tăng trưởng EPS không còn cao như trước.

“Trong những quý tới, yếu tố kết quả kinh doanh mặc dù vẫn là 1 trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn thị trường và mang tính hỗ trợ thị trường nhưng sẽ không còn tính dẫn dắt như trong 2 năm 2017 và 2018”, BVSC nhận định và cho rằng: Yếu tố mang tính chất dẫn dắt sẽ đến từ dòng tiền khi Việt Nam được nâng hạng hay thông qua hệ thống luật cải cách mới như Luật Chứng khoán sửa đổi, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.

Theo đó, Luật Chứng khoán sửa đổi dự kiến sẽ được Quốc hội thảo luận và xem xét thông qua trong kỳ họp thứ 8 diễn ra từ cuối tháng 10/2019. Theo BVSC, việc Luật Chứng khoán sửa đổi được thông qua sẽ giúp cho nhà đầu tư nước ngoài gia tăng đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam qua đó thu hút được thêm dòng vốn đầu tư từ nước ngoài. Thêm vào đó, Luật Chứng khoán sửa đổi cũng giúp gia tăng và cải thiện chất lượng thị trường chứng khoán Việt Nam giúp cho Việt Nam sớm được nâng hạng lên thị trường mới nổi bởi tổ chức MSCI. Từ đó, sẽ có ảnh hưởng tích cực đến yếu tố dòng tiền và tâm lý của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, kỳ vọng nâng hạng sẽ kéo dòng vốn ngoại sớm quay lại thị trường. Theo quan sát của BVSC, trong khoảng thời gian từ 6-7 tháng trước khi thị trường chứng khoán của một quốc gia được chính thức nâng hạng lên thị trường mới nổi, thị trường chứng khoán của quốc gia đó thường bắt đầu có sóng tăng điểm. Điều này là do sự tham gia của các quỹ đầu tư chủ động benchmarking theo chỉ số FTSE/MSCI Emerging Markets (hoặc tương đồng) do các quỹ này không phải chịu sự ràng buộc về cơ cấu chỉ số) và tâm lý hứng khởi đón trước dòng tiền ngoại của các quỹ ETF từ phía các nhà đầu tư trong nước…

Cho rằng, bối cảnh thế giới sẽ giảm tác động với diễn biến thị trường chứng khoán trong nước; trong khi những thông tin tích cực về kết quả kinh doanh quý III, triển vọng kinh doanh 2019, 2020 của doanh nghiệp niêm yết cùng kỳ vọng về các quỹ ETF mới sẽ dẫn dắt sự quan tâm của dòng tiền... BVSC dự báo: “Thị trường sẽ tiếp tục duy trì xu hướng sideway up, mở ra cơ hội để VN-Index đóng cửa ở mức trên 1000 vào cuối năm 2019”.

Cũng có chung nhận định triển vọng thị trường tích cực hơn trong quý 4 so với 3 quý đầu năm, KBSV đã nâng kịch bản cơ sở cho chỉ số VN-Index cuối năm dao động trong khoảng 970 – 1.010 điểm và không loại trừ khả năng xuất hiện các đợt sóng ngắn hạn giúp VN-Index sớm vượt mốc 1.000. “Chúng tôi nhận thấy cơ hội hấp dẫn trong thời gian đầu quý 4 do đây là giai đoạn hội tụ của tâm lý lạc quan về đàm phán Mỹ - Trung được nối lại và tâm lý kỳ vọng trước việc Fed có thể tiếp tục hạ lãi suất. Dù không đánh giá cao khả năng VN-Index có thể bứt phá khỏi vùng 1.000 điểm một cách bền vững nhưng chỉ số này nhiều khả năng sẽ duy trì ở vùng tiệm cận 1.000 trong cuối năm nay”, KBSV nhận định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470