ADB: Động lực tăng trưởng của Việt Nam chuyển từ đầu tư bên ngoài sang tiêu dùng nội địa

14:10 | 25/09/2019

ADB đã giữ nguyên mức dự báo GDP của Việt Nam ở mức 6,8% và 6,7% cho các năm 2019 và 2020; hạ mức dự báo lạm phát từ 3,5% xuống còn 3% trong năm 2019, từ mức 3,8% xuống 3,5% cho năm 2020, theo Báo cáo Cập nhật triển vọng Phát triển châu Á (ADO) 2019 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), vừa được công bố sáng 25/9.

Giải pháp nào để thúc đẩy tăng trưởng cuối năm?
ADB dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,8% năm 2019

Cùng với việc giữ nguyên dự báo tăng trưởng so với lần công bố báo cáo trước, hạ dự báo về lạm phát, ADB cũng lưu ý, mặc dù tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội có chậm lại trong nửa đầu năm 2019, song Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng vững vàng trong năm nay và năm sau bất chấp môi trường bên ngoài suy yếu.

Quang cảnh buổi công bố báo cáo

Đáng chú ý trong báo cáo của ADB là nhận định của Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam, ông Eric Sidgwick, khi cho rằng: “Mặc dù tăng trưởng xuất khẩu bị chững lại do xung đột thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc kéo theo sự sụt giảm của thương mại toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh nhờ cầu nội địa tiếp tục gia tăng và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được duy trì. Triển vọng về tiêu dùng trong nước tiếp tục sáng sủa, được hỗ trợ bởi sự gia tăng thu nhập, mở rộng việc làm và lạm phát duy trì ở mức độ thấp”

Làm rõ thêm vấn đề, ông Nguyễn Minh Cường, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam cũng cho biết tất cả các chỉ số như tiêu dùng nội địa, đầu tư trong nước và xuất khẩu đều rất khả quan, là nhân tố chính giúp Việt Nam tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng kinh tế ở thời điểm hiện tại.

Như vậy, có thể thấy động lực tăng trưởng chính của Việt Nam trong thời gian qua đã thay đổi từ khu vực đầu tư bên ngoài sang khu vực tiêu dùng nội địa trong nước.

Tại buổi họp báo, trả lời câu hỏi về việc đánh giá công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ  9 tháng đầu năm, các chuyên gia ADB nhìn chung đều có cái nhìn tích cực về hiệu quả công tác điều hành Chính phủ khi các chỉ số như lạm phát duy trì ở mức thấp, cán cân thanh toán thặng dư, tỷ giá ổn định...

Đặc biệt, theo ADB, hiện có rất ít các nhân tố không tốt ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại.

Phần cuối báo cáo, ADB nhấn mạnh rủi ro đối với những dự báo trên là đáng kể. Trong đó, rủi ro lớn nhất sẽ đến từ bên ngoài là xung đột thương mại Mỹ - Trung tiếp tục gia tăng và thương mại toàn cầu tiếp tục sụt giảm.

Đặc biệt, nếu như xung đột thương mại, chủ yếu thông qua việc tăng thuế quan biến thành cạnh tranh phá giá đồng tiền thì nó sẽ mang lại nhiều hệ lụy lớn hơn đối với thị trường tài chính quốc tế và tạo ra các rủi ro mới đối với nền kinh tế Việt Nam.

Thanh Tùng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.075 23..285 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.120 23.250 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.750
57.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.750
57.900
Vàng SJC 5c
56.750
57.920
Vàng nhẫn 9999
54.050
55.050
Vàng nữ trang 9999
53.650
54.750