BoJ sẽ duy trì siêu chính sách nới lỏng

08:05 | 21/09/2022

NHTW Nhật Bản (Bank of Japan - BoJ) được dự báo sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng hiện tại vào thứ Năm tới sau khi kết thúc cuộc họp chính sách tháng 9.

Hiện BoJ đang duy trì lãi suất ngắn hạn ở mức - 0,1% và lợi suất trái phiếu 10 năm quanh mức 0% và tối đa là 0,25% với mục tiêu hỗ trợ đà phục hồi mong manh của kinh tế Nhật.

Trong khi đó Fed được dự kiến sẽ tiếp tục thực hiện lần tăng lãi suất 75 điểm thứ ba liên tiếp tại cuộc họp chính sách diễn ra ngày 20-21/9 này. Không chỉ Fed, nhiều NHTW khác dự kiến cũng sẽ tiếp tục tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát cũng như bảo vệ đồng nội tệ trước sự tăng giá của đồng USD.

Tất cả những điều đó đang khiến sự phân kỳ chính sách giữa BoJ với các NHTW khác, nhất là Fed ngày một doãng rộng. Hệ quả là đồng yên Nhật rớt giá mạnh, đặc biệt so với đồng USD. Tính chung từ đầu năm đến nay, đồng yên Nhật đã giảm giá gần 25% so với đồng USD.

boj se duy tri sieu chinh sach noi long
Thống đốc BoJ Haruhiko Kuroda

Thời gian gần đây các nhà chức trách ở Nhật đã phải lên tiếng cảnh báo về sự biến động của đồng yên sau khi đồng tiền này chạm mức thấp nhất trong 24 năm so với đồng USD. Bộ trưởng Tài chính Nhật thậm chí còn chỉ ra việc can thiệp trực tiếp cũng là một trong những lựa chọn và nếu cần thiết, giải pháp này có thể được thực hiện không cần cảnh báo trước.

Tuy nhiên, BoJ được dự báo vẫn kiên định với mục tiêu chính sách của mình. Mặc dù Thống đốc BoJ Haruhiko Kuroda đã từng phát biểu, sự suy yếu nhanh chóng của đồng yên là điều không mong muốn; tuy nhiên Bloomberg dẫn lời những nguồn tin quen thuộc cho biết, ngay cả sau khi đồng yên đạt mức 144,99 JPY/USD vào đầu tháng này, BoJ vẫn tiếp tục giữ quan điểm, đồng yên yếu là yếu tố tích cực cho nền kinh tế nói chung nếu nó ổn định.

Thống đốc BoJ Haruhiko Kuroda cho biết, ngay cả khi BoJ cố gắng điều chỉnh chính sách để hỗ trợ đồng yên thì phần lớn điều đó sẽ vô ích. Ông cho biết vào tháng 7, các đợt tăng lãi suất mạnh là cần thiết để ngăn chặn đà trượt giá của đồng yên, nhưng điều đó sẽ dẫn đến phá vỡ nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp. Việc tăng lãi suất để bình thường hóa chính sách chỉ có thể thực hiện khi lạm phát bền vững và vì vậy Nhật Bản cần thúc đẩy tăng trưởng tiền lương mạnh mẽ.

Tuy nhiên, lập trường của BoJ đi kèm với việc lạm phát ngày càng tăng. Theo đó lạm phát lõi tại Nhật đã tăng lên mức 2,8% trong tháng 8, mức cao nhất trong gần 8 năm và là tháng thứ 5 liên tiếp vượt quá mục tiêu 2% của BoJ.

Bên cạnh đó việc duy trì lãi suất ngắn hạn ở mức -0,1% và lợi suất trái phiếu chính phủ cao nhất 0,25% của BoJ cũng đang gặp nhiều thách thức khi mà đợt bán tháo trái phiếu toàn cầu đã đẩy lợi suất trái phiếu 10 năm lên mức giới hạn trên lần đầu tiên vào tuần trước. Hệ quả là BoJ đã phải chi 1,4 nghìn tỷ yên (9,8 tỷ USD) để mua trái phiếu nhằm bảo vệ lợi suất.

Hideo Hayakawa - Cựu giám đốc điều hành BoJ nói với Bloomberg rằng, BoJ nên điều chỉnh chính sách kiểm soát đường cong lợi suất của mình vì việc đó đang khiến đồng yên suy yếu rất nhiều.

Tuy nhiên các quan chức BoJ đã nói rằng việc nâng trần lợi suất sẽ tương đương với việc tăng lãi suất, bởi vậy về cơ bản họ vẫn loại trừ nó như một lựa chọn cho đến khi đạt được lạm phát bền vững.

Nếu có thay đổi, theo các nhà phân tích, một sự điều chỉnh đối với hướng dẫn về lãi suất trong tương lai sẽ là một lựa chọn dễ dàng hơn. BoJ hiện kỳ vọng lãi suất sẽ ở “mức hiện tại hoặc thấp hơn”.

Đó chính là lý do mà các nhà kinh tế đang theo dõi hướng dẫn của BoJ trong tuần này vì gần 80% trong số họ mong đợi BoJ sẽ kết thúc phần còn lại của chương trình tài trợ Covid đặc biệt của mình như đã định.

BoJ hiện đang liên kết một phần của hướng dẫn về chính sách với đại dịch, vì vậy việc kết thúc chương trình cho thấy có thể có một sự thay đổi về hướng dẫn. Tuy nhiên các nhà phân tích cho rằng, cụm từ quan trọng về lãi suất vẫn không thay đổi, có nghĩa vẫn sẽ ủng hộ lãi suất thấp hoặc thấp hơn.

“Định hướng nới lỏng đó sẽ không thay đổi”, Naomi Muguruma - Chiến lược gia trưởng về thu nhập cố định tại Mitsubishi UFJ Morgan Stanley Securities ở Tokyo cho biết.

Tuy nhiên vẫn cần cảnh giác với những sự thay đổi. Tuần trước, BoJ được cho là đã tiến hành “hỏi về các xu hướng trên thị trường ngoại hối”, động thái được nhiều người coi là chuẩn bị cho sự can thiệp chính thức để bảo vệ đồng yên.

“Đồng yên có thể vi phạm ngưỡng 145 (JPY/USD), nhưng việc đặt cược vào bán đồng tiền này có thể giống như chơi với lửa”, Kyohei Morita - nhà kinh tế trưởng tại Nomura Securities cho biết. “Điều khác biệt lần này là các nhà giao dịch sẽ phải cân nhắc lập trường nới lỏng không thay đổi của Kuroda trước những cảnh báo mạnh mẽ của các quan chức Nhật Bản”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850