Cần cơ chế chia sẻ phí thẻ quốc tế phù hợp

09:52 | 06/09/2021

Trước ảnh hưởng của Covid-19 và sự bất cập trong chính sách thu phí hiện nay, VNBA đề nghị Visa, Mastercard áp dụng cơ chế thu phí hợp lý cho thị trường Việt Nam.

Phải trả phí cao dù doanh thu giảm mạnh

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa có văn bản gửi tổ chức thẻ quốc tế Visa/Mastercard kiến nghị miễn, giảm các loại phí cho các ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng sâu rộng không chỉ người dân, doanh nghiệp mà cả các tổ chức tín dụng.

Đây không phải lần đầu tiên VNBA có văn bản kiến nghị tới các tổ chức này. Tháng 4/2020, một văn bản với nội dung tương tự cũng đã được VNBA gửi đến hai tổ chức thẻ trên và phía Visa cũng “hứa” sẽ xem xét, sớm có thông tin phản hồi. Tuy nhiên, đến hơn một năm, phía VNBA vẫn chưa nhận được thông tin phản hồi chính thức về việc giảm phí thẻ cho các ngân hàng.

can co che chia se phi the quoc te phu hop
Các ngân hàng trong nước đang tích cực giảm phí để hỗ trợ khách hàng

Trong bối cảnh dịch Covid-19 lần thứ tư tại Việt Nam đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập của người dân và doanh nghiệp. Các TCTD tiếp tục chia sẻ khó khăn với khách hàng thông qua việc cơ cấu nợ, giảm lãi suất cho vay, miễn, giảm nhiều loại phí giao dịch, trong đó, có phí phát hành thẻ, phí rút tiền tại ATM. Tuy nhiên, các loại phí liên quan đến thẻ Visa và thẻ Mastercard không giảm phí hơn được nữa do các tổ chức thẻ quốc tế chưa có sự chia sẻ với các TCTD tại Việt Nam.

Hiện cơ cấu phí của các tổ chức thẻ quốc tế áp dụng cho các ngân hàng tại Việt Nam rất phức tạp, với số lượng phí thu rất lớn. Cụ thể, cơ cấu phí chia làm ba nhóm: phí áp dụng cho phát hành, cho thanh toán và phí thu khác liên quan đến hệ thống, các giao dịch tra soát. Với cách tính phí trên, trung bình mỗi năm, tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard thu từ một ngân hàng khoảng 270 đầu phí các loại với tổng giá trị mỗi tổ chức thu tới hàng trăm triệu USD. Cụ thể, tổ chức thẻ quốc tế Visa thu 270 đầu phí các loại. Trong đó, thu thanh toán là 102 đầu phí, thu từ phát hành 135 đầu phí và thu khác là 33 đầu phí. Còn tổ chức thẻ quốc tế Mastercard thu 268 đầu phí, trong đó, thu thanh toán có 54 đầu phí, thu phát hành 72 đầu phí nhưng thu khác lên tới 142 đầu phí.

Thậm chí có nhiều giao dịch, Visa và Mastercard thu phí chồng phí. Ví dụ, trong cơ cấu phí thu của các tổ chức thẻ quốc tế, phí xử lý giao dịch chiếm khoảng 80% tổng phí thu từ ngân hàng. Song với loại phí này, các tổ chức thẻ quốc tế vừa thu theo số lượng giao dịch, vừa thu theo doanh số giao dịch. Với mỗi giao dịch thẻ, tổ chức thẻ quốc tế có thể thu 3-4 loại phí. Thậm chí, với các giao dịch không được cấp phép chuẩn chi, ngân hàng không thu được phí từ đơn vị chấp nhận thẻ, nhưng vẫn phải trả phí cấp phép cho tổ chức thẻ quốc tế. Ví dụ, có trường hợp ngân hàng phát hành đã gửi các bản tin giao dịch không thành công (Re-attempt) nhưng vẫn phải trả phí xử lý giao dịch đến trên 20 lần so với phí xử lý giao dịch thành công. Điều này là hết sức vô lý. Không những thế, các tổ chức thẻ quốc tế còn áp dụng phí chênh lệch rất lớn đối với giao dịch trong nước và tại nước ngoài. Ví dụ, đối với phí thu chiều phát hành, phí thu trên doanh số giao dịch tại nước ngoài cao gấp 10 - 50 lần so với giao dịch trong nước, trong khi phí thu trên số lượng giao dịch đối với giao dịch nước ngoài cao gấp 7-10 lần giao dịch trong nước…

Cần cơ chế thu phí hợp lý

Theo đánh giá của VNBA, tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng Việt Nam hiện nay rất lớn. Đặc biệt, đối với thanh toán, doanh số thanh toán thẻ quốc tế tính đến hết quý II/2021 giảm 23% so với năm 2019. Doanh số thanh toán tại nước ngoài giảm 85% so với năm 2019. 6 tháng đầu năm 2021 doanh số thanh toán thẻ trong nước đã sụt giảm từ 50 - 70% so với thời điểm trước khi bùng phát dịch. Trong khi đó, các ngân hàng Việt Nam vẫn phải trả mức phí rất lớn cho tổ chức thẻ quốc tế.

Theo tổng hợp của VNBA, trong giai đoạn 2019-2020, tổng phí thu của các tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard đối với các ngân hàng Việt Nam ước tính khoảng hơn 200 triệu USD/năm, tương đương khoảng 5.000 tỷ đồng/năm.

Trước ảnh hưởng của Covid-19 và sự bất cập trong chính sách thu phí hiện nay, VNBA đề nghị Visa, Mastercard áp dụng cơ chế thu phí hợp lý cho thị trường Việt Nam. Cụ thể, VNBA kiến nghị tổ chức thẻ quốc tế đơn giản hóa cơ chế thu phí để tránh tình trạng thu phí chồng phí; áp dụng cơ chế thu một loại phí đối với một giao dịch. Đồng thời, chỉ thu theo số lượng giao dịch hoặc doanh số giao dịch hoặc, chỉ áp dụng một mức phí đối với phí xử lý giao dịch rút tiền mặt, không phân biệt theo giá trị giao dịch. Cùng đó, có chính sách phí ưu đãi đối với các giao dịch trong nước, phù hợp với mức phí của tổ chức chuyển mạch thẻ đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay.

Về phí xử lý giao dịch, Hiệp hội đề nghị Visa, Mastercard giảm tối thiểu 50% phí xử lý giao dịch; triển khai các chương trình tài trợ hoàn phí xử lý giao dịch và giảm 50% phí dịch vụ cho các ngân hàng tại Việt Nam theo nhóm dịch vụ chịu ảnh hưởng của Covid-19. Đối với giao dịch giá trị nhỏ, đề xuất tổng các loại phí (không bao gồm phí interchange fee) thu trên 1 giao dịch giá trị nhỏ thu theo một mức tỷ lệ % và không quá 0,05% doanh số giao dịch để khuyến khích giao dịch chi tiêu giá trị nhỏ hàng ngày nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Về phí trao đổi, Hiệp hội cho rằng, phí trao đổi hiện nay quá cao, ngân hàng thanh toán không thu đủ bù chi. Vì vậy, đề nghị tổ chức thẻ quốc tế giảm mức phí interchange cho các nhóm ngành nghề căn cứ theo mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh.

Việc kêu gọi các tổ chức trong nước và quốc tế cùng chung tay chia sẻ, miễn, giảm phí giao dịch cho ngân hàng thời điểm này, theo đánh giá của một thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, là hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Dù có thể phần chi phí giảm đi không quá lớn nhưng trong giai đoạn khó khăn như hiện nay lại rất có ý nghĩa, qua đó giảm bớt chi phí cho TCTD có thêm điều kiện hỗ trợ cho khách hàng.

Có ý kiến cho rằng, tỷ lệ người sử dụng thẻ thanh toán quốc tế ngày càng giảm trước xu thế bùng nổ của ngân hàng số, các hình thức thanh toán hiện đại ngày càng gia tăng như QR Code, Ví điện tử, Mobile money... với sự tham gia của nhiều Fintech, Bigtech. Vì thế, “nếu phí thanh toán thẻ không giảm, e rằng người tiêu dùng sẽ lựa chọn các kênh thanh toán khác. Vì thế, việc giảm phí nếu thực hiện còn có lợi cho cả Visa và Mastercard trong việc giữ vị thế đồng thời gia tăng tính cạnh tranh”, vị chuyên gia trên nhận định.

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ)

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.050 23.350 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.090 23.310 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.100 23.310 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.062 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.067 23.352 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.080 23.325 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.120 23.310 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.400
69.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.400
69.400
Vàng SJC 5c
68.400
69.420
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750